Cộng đồng chia sẻ tri thức Lib24.vn

Tùy bút Người lái đò sông Đà - Nguyễn Tuân

56651cb292f2db831ea766bd1a27e7cb
Gửi bởi: Phạm Thị Thu Hiền 6 tháng 1 2021 lúc 14:17:18 | Được cập nhật: 15 giờ trước (18:20:56) Kiểu file: DOCX | Lượt xem: 989 | Lượt Download: 13 | File size: 2.974507 Mb

Nội dung tài liệu

Tải xuống
Link tài liệu:
Tải xuống

Các tài liệu liên quan


Có thể bạn quan tâm


Thông tin tài liệu

Tùy bút Người lái đò sông Đà

Tác phẩm văn học

Tùy bút Người lái đò sông Đà
I. Đôi nét về tác giả Nguyễn Tuân
- Nguyễn Tuân (1910 - 1987), sinh ra trong một gia đình nhà Nho khi Hán học
đã tàn.
- Quê ở làng Mọc, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội.
- Khi còn nhỏ, Nguyễn Tuân đã theo gia đình sống ở nhiều tỉnh thuộc miền
Trung.
- Ông học đến cuối bậc Thành chung (tương đương với cấp THCS hiện nay) ở
Nam Đinh. Sau khi học xong thì về Hà Nôij viết văn, làm báo.
- Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Tuân đến với cách mạng,
tự nguyện dùng ngòi bút phục vụ hai cuộc kháng chiến của dân tộc.
- Từ 1948 đến 1958, ông là Tổng thư ký Hội văn nghệ Việt Nam.
- Ông là một nhà văn lớn, một người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp.
- Nguyễn Tuân có những đóng góp không nhỏ đối với nền văn học Việt Nam
hiện đại đó là thúc đẩy thể tùy bút, bút kí đạt tới trình độ nghệ thuật cao, góp
phần làm phong phú cho ngôn ngữ văn học của dân tộc.
- Nguyễn Tuân được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học
nghệ thuật vào năm 1996.

1

Tùy bút Người lái đò sông Đà

- Một số tác phẩm tiêu biểu: Một chuyến đi (1938), Vang bóng một thời (1940),
Thiếu quê hương (1940), Chiếc lư đồng mắt cua (1941), Đường vui (1949),
Tình chiến dịch (1950), Sông Đà (1960), Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972)...

II. Giới thiệu về Người lái đò sông Đà
1. Hoàn cảnh sáng tác
- Người lái đò sông Đà là thành quả của chuyến đi gian khổ và hào hứng tới
miền Tây Bắc rộng lớn, xa xôi. Vừa thỏa mãn thú phiêu lãng vừa để tìm kiếm
vẻ đẹp thiên nhiên và “chất vàng mười đã qua thử lửa” trong tâm hồn của những
con người lao động và chiến đấu trên miền sông núi hùng vĩ và thơ mộng đó.
- “Người lái đò sông Đà” là bài tùy bút được in trong tập “Sông Đà” (1960).
2. Bố cục
- Phần 1. Từ đầu đến “cái gậy đánh phèn”: Vẻ hung dữ của con sông Đà
- Phần 2. Tiếp theo đến “dòng nước sông Đà”: Cuộc sống của con người trên
sông Đà và hình ảnh người lái đò sông Đà
- Phần 3. Còn lại : Vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của sông Đà
3. Tóm tắt
Người lái đò sông Đà kể về thiên nhiên hùng vĩ nhất là còn sông Đà và hình ảnh
người lái đò tài giỏi, dũng cảm. Con sông Đà nổi tiếng hung tợn và vô cùng
hiểm trở với những thác nước, đá ngầm, đá nổi, thạch trận được bố trí vô cùng
nguy hiểm nhưng con sông Đà trở nên hiền hòa và có chất thơ hơn khi ngắm
nhìn màu nước biến đổi theo mùa và mang đặc điểm riêng. Trên nền của thiên
nhiên xuất hiện hình ảnh người lao động đó là người lái đò sông Đà những
người thực hiện nhiệm bảo chèo lái con thuyền vượt sông Đà. Ông lái đò khỏe

2

Tùy bút Người lái đò sông Đà

mạnh, rắn chắc và có thừa sự dũng cảm. Ông trong nghề đã nhiều năm và nắm
vững bố trí bãi đá, con thác, thạch trận…mọi thứ đều lão ghi nhớ và nắm trong
lòng bàn tay. Để chèo lái con thuyền vượt qua sông Đà thành công ông phải kết
hợp kinh nghiệm của bản thân và sự dũng cảm, gan dạ. Sau khi trở về bến ông
và những người bạn còn toát lên vẻ đẹp của sự tài hoa và khiêm nhường họ xem
những thử thách vừa trải qua là những công việc thường ngày.
4. Ý nghĩa nhan đề
Nhan đề “Người lái đò sông Đà” trước hết gợi cho người đọc về nhân vật trung
tâm của tác phẩm đó là ông lái đò - một người lao động tại vùng sông nước Tây
Bắc. Ông lái đò vừa có những vẻ đẹp của một người lao động bình thường, vừa
có phẩm chất của một người nghệ sĩ tài hoa.Đồng thời, nhan đề cũng nhấn mạnh
đến một hình tượng không kém phần quan trọng của tác phẩm: con sông Đà. Vẻ
đẹp thiên nhiên của sông Đà hiện lên đầy hùng vĩ nhưng cũng đầy thơ mộng.
Qua nhan đề trên, Nguyễn Tuân muốn khẳng định vẻ đẹp của con người lao
động ở vùng núi Tây Bắc trong công cuộc chinh phục thiên nhiên để kiến thiết
quê hương đất nước.

Người lái đò sông Đà
Đẹp vậy thay, tiếng hát trên dòng sông”
Władysław Broniewski
“Chúng thuỷ giai đông tẩu - Đà giang độc bắc lưu”
(Lượt đoạn đầu: Tác giả trình bày mục đích chuyến đi thực tế Tây Bắc và sông
Đà của mình chủ yếu là để tìm hiểu những con người ở đây mà ông gọi “thứ
vàng mười đã qua thử lửa của cách mạng là kháng chiến, hiện nay đang góp
phần vào việc đến thiết Tây Bắc. Tiếp đó, tác giả giới thiệu tài tứ tuyệt vời của

3

Tùy bút Người lái đò sông Đà

những người lái đò sông Đà trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh và liệt kê một
loạt con thác sông Đà từ Vạn Yên về xuôi, trong đó có những con thác vô cùng
độc dữ, nham hiểm”. Đáng sợ nhất là những cái hút nước “xoáy tít đáy” giữa
lòng sông từng dìm xuống và xé tan tác những bè gỗ, những con thuyền vô ý bị
nó lôi tuột xuống…)
Hùng vĩ của Sông Đà không phải chỉ có thác đá. Mà nó còn là những cảnh đá
bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời.
Có vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu. Đứng bên này bờ nhẹ
tay ném hòn đá qua bên kia vách. Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ
này sang bờ kia. Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng
thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một
khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện.
Lại như quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng,
sóng xô gió. Cuốn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ
xuýt tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra.
Lại như quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La. Trên sông bỗng có những cái
hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng
cầu. Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc. Trên mặt cái hút xoáy tít
đáy; cũng đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn. Không thuyền nào dám men
gần những cái hút nước ấy, thuyền nào qua cũng chèo nhanh để lướt quãng
sông, y như là ô tô sang số ấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn
cạp ra ngoài bờ vực. Chèo nhanh và tay lái cho vững mà phóng qua cái giếng
sâu, những cái giếng sâu nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào. Nhiều bè gỗ
rừng đi nghênh ngang vô ý là những cái giếng hút ấy nó lôi tuột xuống. Có
những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi
vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan
xác ở khuỷnh sông dưới. Tôi sợ hãi mà nghĩ đến một anh bạn quay phim táo tợn
4

Tùy bút Người lái đò sông Đà

nào muốn truyền cảm giác lạ cho khán giả, đã dũng cảm dám ngồi vào một cái
thuyền thúng tròn vành rồi cho cả thuyền cả mình cả máy quay xuống đáy cái
hút Sông Đà - từ đáy cái hút nhìn ngược lên vách thành hút mặt sông chênh
nhau tới một cột nước cao đến vài sải. Thế rồi thu ảnh. Cái thuyền xoay tít,
những thước phim màu cũng quay tít, cái máy lia ngược contre-plongée lên một
cái mặt giếng mà thành giếng xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thuỷ
tinh khối đúc dày, khối pha lê xanh như sắp vỡ tan ụp vào cả máy cả người quay
phim cả người đang xem. Cái phim ảnh thu được trong lòng giếng xoáy tít đáy,
truyền cảm lại cho người xem phim ký sự thấy mình đang lấy gân ngồi giữ chặt
ghế như ghì lấy mép một chiếc lá rừng bị vứt vào một cái cốc pha lê nước
khổng lồ vừa rút lên cái gậy đánh phèn.
Cuộc sống của người lái đò Sông Đà quả là một cuộc chiến đấu hằng ngày với
thiên nhiên, một thứ thiên nhiên Tây Bắc có nhiều lúc trọng nó thành ra diện
mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một. Nhìn cái thiên nhiên ấy, có những lúc
thấy nó không “thơ đời Đường” nhàn hạ, mà thấy nó chính là một cuộc đấu
tranh với thiên nhiên để giành sự sống từ tay nó về tay mình. Tôi xin ghi ở đoạn
này cái hình ảnh chiến đấu gian lao của người lái đò trên chiến trường Sông Đà,
trên một quãng thuỷ chiến ở mặt trận Sông Đà.
…Còn xa lắm mới đến cái thác dưới. Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại
réo to mãi lên. Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin,
rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng
một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang
phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng. Tới
cái thác rồi. Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời
đá. Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần
có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có
chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy

5

Tùy bút Người lái đò sông Đà

thuyền. Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo
mó hơn cả cái mặt nước chỗ này. Mặt sông rung rít lên như tuyếc-bin thuỷ điện
nơi đáy hầm đập. Mặt sông trắng xóa càng làm bật rõ lên những hòn những tảng
mới trông tưởng như nó đứng nó ngồi nó nằm tùy theo sở thích tự động của đá
to đá bé. Nhưng hình như Sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn. Mới thấy rằng đây
là nó bày thạch trận trên sông. Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng chắn ngang
trên sông đòi ăn chết cái thuyền một cái thuyền đơn độc không còn biết lùi đi
đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn. Hàng tiền vệ, có hai hòn
canh một cửa đá trông như là sơ hở nhưng chính hai đứa giữ vai trò dụ cái
thuyền đối phương đi vào sâu nữa, vào tận tuyến giữa rồi nước sóng luồng với
đánh khuỷu quật vu hồi lại Nếu lọt vào đây rồi mà cái thuyền du kích ấy vẫn
chọc thủng được tuyến hai, thì nhiệm vụ của những boongke chìm và pháo đài
đá nổi ở tuyến ba phải đánh tan cái thuyền lọt lưới đá tuyến trên, phải tiêu diệt
tất cả thuyền trưởng thuỷ thủ ngay ở chân thác. Thạch trận dàn bày vừa xong thì
cái thuyền vụt tới. Phối hợp với đá, nước thác reo hò làm thanh viện cho đá,
những hòn bệ vệ oai phong lẫm liệt. Một hòn ấy trông nghiêng thì y như là đang
hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến. Một hòn khác
lùi lại một chút và thách thức cái thuyền có giỏi thì tiến gần vào. Ông đò hai tay
giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình. Mặt
nước hò la vang dậy quanh mình, ùa vào mà bẻ gãy cán chèo võ khí trên cánh
tay mình. Sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách mà đá trái mà thúc
gối vào bụng và hông thuyền. Có lúc chúng đội cả thuyền lên. Nước bám lấy
thuyền như đổ vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra giữa trận nước
vang trời thanh la não bạt. Sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất, cả
cái luồng nước vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò […]. Mặt sông
trong tích tắc lòe sáng lên như một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống mà châm
lửa vào đầu sóng. Nhưng ông đò cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy
cuống lái, mặt méo bệch đi như cái luồng sóng đánh hồi lung, đánh đòn tỉa,

6

Tùy bút Người lái đò sông Đà

đánh đòn âm vào chỗ hiểm. Tăng thêm mãi lên tiếng hỗn chiến của nước của đá
thác. Nhưng trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy ngắn gọn
tỉnh táo của người cầm lái. Vậy là phá xong cái trùng vi thạch trận vòng thứ
nhất. Không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi
luôn chiến thuật. Ông lái đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Ông đã
thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này. Vòng đầu vừa rồi,
nó mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh cửa, sinh nằm lập lờ phía tả
ngạn sông. Vòng thứ hai này tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền
vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn. Cưỡi lên thác Sông Đà,
phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ.
Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá. Nắm chặt lấy được cái
bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng
mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy.
Bốn năm bọn thuỷ quân cửa ải nước bên bờ trái liền xô ra cảnh níu thuyền lôi
vào tập đoàn cửa tử. Ông đò vẫn nhớ mặt bọn này, đứa thì ông tránh mà rảo bơi
chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến. Những luồng
tử đã bỏ hết lại sau thuyền. Chỉ còn vẳng reo tiếng hò của sóng thác luồng sinh.
Chúng vẫn không ngớt khiêu khích, mặc dầu cái thằng đá tướng đứng chiến ở
cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng thua cái thuyền đã đánh trúng
vào cửa sinh nó trấn lấy. Còn một trùng vây thứ ba nữa. Ít cửa hơn, bên phải
bên trái đều là luồng chết cả. Cái luồng sống ở chặng ba này lại ở ngay giữa bọn
đá hậu vệ của con thác. Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó.
Thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép. Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại
cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa
xuyên vào từ động lái được lượn được. Thế là hết thác. Dòng sông vặn mình
vào một cái bến cát có hang lạnh. Sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ. Sông
nước lại thanh bình. Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam
và toàn bàn tán về cá anh vũ cá dầm xanh, về những cái hầm cá hang cá mùa
7

Tùy bút Người lái đò sông Đà

khô nổ những tiếng to như mìn bộc phá rồi cá túa ra đầy tràn ruộng. Cũng chả
thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi cửa ải nước đủ
tướng dữ quân tợn vừa rồi. Cuộc sống của họ là ngày nào cũng chiến đấu với
Sông Đà dữ dội, ngày nào cũng giành lấy cái sống từ tay những cái thác, nên nó
cũng không có gì là hồi hộp đáng nhớ... Họ nghĩ thế, lúc ngừng chèo.
Trên Sông Đà, thỉnh thoảng có tàu bay lượn vòng ở quãng này ở quãng khác, có
lẽ đề chỉnh lý về bản đồ đất nước Tổ quốc. Tôi nghĩ nếu sau này làm phim
truyện hoặc phim ký sự (tôi không muốn dùng mấy chữ phim tài liệu) màu về
Sông Đà, nếu muốn phản ánh lên cái dữ tợn và cái lớn của Sông Đà của thác
Sông Đà, cũng phải đưa ống quay phim lên tàu bay. Cho bay là là trên thác mà
giá máy xuống mà lượn ống máy theo những luồng sinh của thác, trên thác hiên
ngang một người lái đò Sông Đà có tự do, vì người lái đò ấy đã nắm được cái
quy luật tất yếu của dòng nước Sông Đà.
Tôi có bay tạt ngang qua Sông Đà mấy lần, và thấy đó cũng là thêm cho mình
một góc độ nhìn một cách nhìn về con sông Tây Bắc hung bạo và trữ tình. Từ
trên tàu bay mà nhìn xuống Sông Đà, không ai trong tàu bay nghĩ rằng cái dây
thừng ngoằn ngoèo dưới chân mình kia lại chính là cái con sông hằng năm và
đời đời kiếp kiếp làm mình làm mẩy với con người Tây Bắc và phản ứng giận
dỗi vô tội vạ với người lái đò Sông Đà. Cũng không ai nghĩ rằng đó là con sông
của câu đồng dao thần thoại Sơn Tinh Thuỷ Tinh “Núi cao sông hãy còn dài Năm năm báo oán đời đời đánh ghen”. Hình như khi mà ta đã quen đọc bản đồ
sông núi, thì mỗi lúc ngồi tàu bay trên chiều cao mà nhìn xuống đất nước Tổ
quốc bao la, càng thấy quen thuộc với từng nét sông tãi ra trên đại dương đá lờ
lờ bóng mây dưới chân mình. Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc
trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời tây Bắc bung nở hoa ban hoa
gạo tháng hai va cuồn cuộn mù khói Mèo đốt nương xuân. Tôi đã nhìn say sưa
làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà

8

Tùy bút Người lái đò sông Đà

nhìn xuống dòng nước Sông Đà. Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước
Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm Sông Lô. Mùa thu
nước Sông đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái
màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về. Chưa hề bao giờ
tôi thấy dòng Sông Đà là đen như thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ta ra đổ
mực Tây vào mà gọi bằng một cái tên Tây láo lếu, rồi cứ thế mà phiết vào bản
đồ lai chữ.
Con Sông Đà gợi cảm. Đối với mỗi người, Sông Đà lại gợi một cách. Đã có lần
tôi nhìn Sông Đà như một cố nhân. Chuyến ấy ở rừng đi núi cũng đã hơi lâu đã
thấy thèm chỗ thoáng. Mải bám gót anh liên lạc, quên đi mất là mình sắp đổ ra
Sông Đà. Xuống một cái dốc núi, trước mắt thấy loang loáng như trẻ con nghịch
chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy. Tôi nhìn cái miếng sáng lóe lên một
màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”. Bờ sông
Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên Sông Đà. Chao ôi, trông con
sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt
quãng. Đi rừng dài ngày rồi lại bắt ra Sông Đà, đúng thế, nó đằm đằm ấm ấm
như gặp lại cố nhân, mặc dầu người cố nhân ấy mình biết là lắm bệnh mà
chứng, chốc dịu dàng đấy, rồi lại bản tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy.
Thuyền tôi trôi trên Sông Đà. Cảnh ven song ở đây lặng tờ. Hình như từ đời
Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua
một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tinh không một bóng
người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn
búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông
hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa. Chao ôi, thấy thèm được giật
mình vì một tiếng còi xúp-lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ
- Yên Bái - Lai Châu. Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương,
chăm chăm nhìn tôi không chớp mắt lừ lừ trôi trên một mũi đò. Hưu vểnh tai,

9

Tùy bút Người lái đò sông Đà

nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi tôi bằng các tiếng nói riêng của con vật
lành: “Hỡi ông khách Sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi
sương?”. Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bung trắng như bạc rơi thoi.
Tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến. Thuyền tôi trôi trên “Dải
Sông Đà bọt nước lênh đênh – Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” của “một người
tình nhân chưa quen biết” (Tản Đà). Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ
thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc. Và con
sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi, và con sông
đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi
én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên.
(Lược đoạn cuối: Tác giả cung cấp những thông tin về lịch sử, địa lí của sông
Đà và lịch sử đấu tranh chống xâm lược của nhân dân Tây Bắc, từ cuộc chiến
đấu dưới lá có Cần vương của Chánh sứ sơn phòng Nguyễn Quang Bích “Lòng
trung không nỡ bỏ Tây Châu - Giữ lấy Thao, Đà dải thượng lưu, từ cuộc nổi
dậy của năm trăm phu vận tải người Thái chở thóc kho cho thực dân Pháp đã
dùng mái chèo đánh lính áp tải, cướp thóc kho và để theo Việt Minh, đến phong
trào đấu tranh trong lòng địch của đồng bào các dân tộc Tây Bắc thời kháng
chiến chín năm... Cuối cùng, tác giả trở về hiện tại, báo tin vui về kế hoạch cải
tạo sông Đà sắp được khởi công, bắt con sông hung dữ phải phục vụ cho cuộc
sống của nhân dân Tây Bắc.)
1960

10