Số phận người phụ nữ xưa và nay qua Vợ nhặt và Vợ chồng A Phủ
Nội dung tài liệu
Tải xuống
Link tài liệu:
Các tài liệu liên quan
Có thể bạn quan tâm
Thông tin tài liệu
Số phận người phụ nữ xưa và nay qua Vợ nhặt và Vợ chồng A Phủ
Truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân và truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài là những
bức tranh thu nhỏ về hiện thực xã hội Việt Nam trong thời kì hấp h ối c ủa ch ế đ ộ th ực dân, phong ki ến
trước Cách mạng tháng Tám 1945 và trong cuộc kháng chiến chống Pháp trường kì. Bao phủ lên những bức
tranh đó là gam màu xám lạnh, thê lương của cuộc sống khốn đ ốn, cùng c ực c ủa t ầng l ớp dân nghèo ở mi ền
xuôi và miền ngược. Kim Lân, Tô Hoài tập trung thể hiện s ố phận b ất h ạnh c ủa s ố đông ph ụ n ữ – nh ững
nạn nhân đáng thương qua hình ảnh bà cụ Tứ, người "vợ nhặt" và Mị – cô "con dâu gạt nợ" nhà th ống lí Pá
Tra.
Nội dung tác phẩm Vợ nhặt kể về cuộc sống bức bối, ngột ngạt của nhân dân ta năm 1945 v ới n ạn đói
khủng khiếp làm chết hơn hai triệu người. Đó chính là hậu quả chính sách cai tr ị dã man của th ực dân Pháp
và phát xít Nhật ở Việt Nam. Cũng như một số tác phẩm khác viết về nạn đói, ngòi bút Kim Lân ch ứa chan
thương cảm trước số phận bất hạnh của những con người nghèo khổ trong xã hội đ ương th ời, nh ất là đ ối
với phụ nữ. Nhân vật bà cụ Tứ mẹ anh Tràng và chị "vợ nhặt" được tác gi ả miêu t ả bằng s ự th ương c ảm
chân thành đã gây ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc.
Tội nghiệp thay cho người con gái mà anh Tràng "nhặt" về làm "vợ". Sinh ra làm ng ười, ai cũng có m ột cái
tên dù đẹp hay xấu. Thế nhưng chị ta không có đến một cái tên để gọi. Không tên, không tuổi, không cha
mẹ, anh em. Không ai biết gốc gác quê hương, nhà cửa của ch ị ta ở đâu. Về hình th ức, ch ị ta gi ống nh ư bao
kẻ đói khát khác: ...áo quần tả tơi như tổ đỉa... trên cái khuôn mặt l ưỡi cày xám x ịt ch ỉ còn th ấy hai con
mắt... Chị là hiện thân của hàng triệu nông dân bần cùng, tha phương cầu thực kiếm s ống qua ngày, để r ồi
gục chết bất cứ lúc nào nơi đầu đường xó chợ.
Chị nhận lời làm vợ anh Tràng giống như một trò đùa, hay nói như tác giả là chuyện tầm phơ tâm phào đâu
có hai bận giữa chị với Tràng, người đàn ông nghèo khổ làm nghề kéo xe thuê. Gặp lại Tràng, chị ta đang đói
lắm nên sỗ sàng vòi anh đãi ăn bánh đúc. Chị cặm cụi ăn liền một ch ập b ốn bát bánh đúc. Ăn không k ịp th ở,
ăn mà không nói tiếng nào. Ăn như thế là đói đã lâu rồi nên quên cả ý tứ, sĩ diện, thẹn thùng. Nhìn cảnh ấy,
Tràng động lòng thương, bèn bảo : Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe r ồi cùng v ề. T ưởng
nói giỡn chơi, ai dè chị ta theo về thật khiến anh chợn, nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có
nuôi nổi không, lại còn đèo bòng. Một người đàn ông mới quen sơ s ơ đôi lần, nay hào phóng đãi m ột b ữa no
nê, ngoài ra chẳng biết tí gì về anh ta; chỉ nghe nói là chưa có vợ, ai biết th ật gi ả th ế nào, ấy th ế mà ch ị ta
dám đi theo mà không hề đắn đo, sợ hãi. Có liều lĩnh, nhẹ dạ quá chăng? M ặc k ệ! Tr ước m ắt, c ứ theo anh ta
để được ăn cái đã, mọi chuyện tính sau. Vợ chồng là chuyện lâu dài, trong tình cảnh s ống nay ch ết mai, bi ết
thế nào mà nói trước. Có lẽ chị ta chỉ nghĩ đơn giản như vậy. Thế là Tràng đã "nhặt" được "v ợ", gi ống nh ư
nhặt được một vật gì đó rơi trên đường (!). Tội nghiệp biết bao nhiêu cho ng ười "v ợ nh ặt" ấy, vì xã h ội
phong kiến khinh bỉ và không chấp nhận loại "vợ" theo không như vậy.
Chị ta theo Tràng về cái xóm ngụ cư: Ngã tư xóm chợ về chiều càng xác xơ, heo hút. Từng trận gió từ cánh
đồng thổi vào, ngăn ngắt Hai bên dãy phố, úp súp, tối om, không nhà nào có ánh đèn, l ửa. D ưới nh ững g ốc
đa, gốc gạo xù xì, bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma. Tiếng quạ kêu trên mấy
cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết. Quả là một khung cảnh ngập tràn tử khí! Con ng ười
đang mấp mé bên vực thẳm của cái chết.
Về đến nhà Tràng, chị "vợ nhặt" cứ ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần thần.
Tràng mời ngồi, sao chị ta lại không dám ngồi cho đàng hoàng, ngay ngắn? Thì ra cái thế ngồi r ụt rè, chông
chênh ấy là cái thế của lòng chị, đời chị. Chị băn khoăn không biết chỗ này có phải là ch ỗ của chị hay không
? Mái nhà xa lạ này liệu cỏ phải là chỗ dung thân của chị ? Căn nhà xơ xác, dúm dó của m ẹ con Tràng chắc
cũng không khỏi làm cho chị thất vọng. Đúng là cảnh "đồ nát đụng nhau", không bi ết đ ược m ấy ngày?! M ặt
1
chị bần thần vì mải nghĩ đến chuyện thành vợ bỗng dưng của mình. Nó là th ực mà c ứ nh ư không ph ải th ực.
Làm vợ, làm dâu mà thảm hại đến thế này ư?! Lấy chồng, hạnh phúc lớn nhất của đời người con gái, ch ị có
được hưởng chút nào đâu? Buồn lắm! Tủi lắm! Nỗi buồn tủi không th ể nói thành l ời. Trăm m ối ng ổn ngang
trong lòng. Nỗi đau không trào ra theo nước mắt mà chảy ngược vào tim nên càng đau, càng tủi. Nhà văn Kim
Lân viết về người "vợ nhặt" với ngòi bút chan chứa xót thương. Trong chế độ phong kiến thực dân thời ấy,
có bao nhiêu người phụ nữ phải chịu thân phận bất hạnh như thế ? Ý nghĩa tố cáo hi ện th ực xã h ội, ý nghĩa
nhân đạo sâu xa của tác phẩm ẩn chửa trong sổ phận của nhân vật đáng thường này.
Hình ảnh bà cụ Tứ bổ sung cho hình ảnh chị "vợ nhặt" để hoàn chỉnh số phận tăm tối của phụ nữ nói chung
trong xã hội đương thời. Có thể nói nhân vật này tuy là phụ nhưng lại chiếm được cảm tình của người đ ọc
bởi nét chân phương của một bà mẹ nghèo rất đỗi thương con, bởi lòng nhân h ậu r ất đáng quý tr ọng. Khi
thấy người con gái lạ mặt ngồi ở giường con trai mình, bà cụ Tứ ngạc nhiên lắm, ch ẳng hi ểu ra làm sao c ả.
Nhưng đến lúc nghe Tràng bảo: Kìa nhà tôi nó chào u... thì bà vỡ lẽ ngay: Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão
hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót th ương cho s ố
kiếp đứa con mình... Hóa ra là thằng con trai mình cũng đã kiếm đ ược m ột cô v ợ, dù là trông d ở ng ười d ở
ma. Bà tủi phận làm cha làm mẹ mà không cưới nổi vợ cho con. Trăm s ự cũng tại cái nghèo mà ra c ả : Chao
ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm n ổi, nh ững mong sinh con đ ẻ c ải m ở m ặt
sau này. Còn mình thì... Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt. Bà vừa vui mừng, vừa
lo lắng: Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không ? Nhưng ngẫm tới thân
phận nghèo khó của mình, bà lại tự an ủi: Người ta có gặp b ước khó khăn, đói kh ổ này, ng ười ta m ới l ấy
đến con mình. Mà con mình mới có vợ được...
Nghĩ thế nên bà vui vẻ chấp nhận nàng dâu mới. Bà cư xử với chị dịu dàng, g ọi ch ị là con, x ưng là u và nhìn
cô con dâu mới bằng ánh mắt xót thương, thông cảm.
Bữa cơm đầu tiên mẹ chồng đãi hàng dâu chĩ có món cháo loãng với muối hột và chè cám, ấy thế nhưng bà
cụ Tứ cố tỏ ra vồn vã, tươi cười, chỉ toàn nói tới chuyện vui. Bà khen cháo cám ngon đáo đ ể, nhà khác
chẳng có mà ăn. Chao ôi ! Đói đến mức nào thì ăn cám thấy ngon ?! Bà t ừ t ốn nói v ới con trai và con dâu :
Nhà ta thì nghèo con ạ. Vợ chồng chúng mậy liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi ra may mà ông gi ời cho kh ả...
Biết thể nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời ? Có ra thì r ồi con cái chúng mày v ề sau... Bà c ảm đ ộng bày
tỏ ý muốn và nỗi khổ tâm của mình: Kể có ra làm được dăm ba mâm thì ph ải đ ẩy, nh ưng nhà mình nghèo,
cũng chả ai người ta chấp nhặt chi cái lúc này. Cốt làm sao chúng mày hòa thu ận là u m ừng r ồi. Năm nay thì
đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá... Hình ảnh bà mẹ già nua cố bấu víu, hi v ọng vào
tương tai thật đáng thương và cũng đáng quý biết bao!
Nội dung truyện ngắn vợ chồng A Phủ kể về cuộc đời đầy biến cố của đôi vợ chồng trẻ người Mông ở
vùng cao Tây Bắc dưới ách thống trị tàn bạo của bọn lang đạo chúa đất và th ực dân Pháp. Nhân v ật chính
của truyện là Mị. Vì nghèo khổ, bố mẹ Mị phải vay tiền của thống lí Pá Tra đ ể làm đám c ưới. Mãi cho t ới
năm mẹ Mị qua đời vì bệnh tật và Mị cũng đã lớn khôn mà bố Mị vẫn không có tiền trả n ợ. M ị là cô gái đ ẹp
người đẹp nết, được nhiều chàng trai trong vùng đem lòng yêu mến. Lẽ ra Mị phải được sống trong tình yêu
và hạnh phúc, thế nhưng chỉ vì món nợ không thể trả nổi của gia đình nên Mị bị bố con tên th ống lí Pá Tra
gian tham và tàn bạo bắt về làm "con dâu trừ nợ". Từ cuộc đời của người con gái xinh đẹp mà bất hạnh này,
nhà văn Tô Hoài đã phản ánh chân thực và sinh động kiếp s ống đau th ương, t ủi nh ục c ủa ng ười ph ụ n ữ
vùng cao thuở trước.
Từ ngày bị bắt về làm vợ A Sử, sống trong nhà thống lí Pá Tra, M ị đã r ơi vào cảnh đo ạ đày c ủa đ ịa ng ục
trần gian. Cô đau đớn đến tuyệt vọng: Có đến hàng mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc. Một hôm, Mị trốn về
2
nhà, hai tròng mắt còn đỏ hoe. Trông thấy bố, Mị quỳ lạy, úp mặt xuống đất, nức nở. Bố Mị cũng khóc, đoán
biết lòng con gái:
Mày về lạy chào tao để mày đi chết đấy à? Mày chết nhưng nợ tao vẫn còn, quan l ại b ắt tao tr ả n ợ. Mày
chết rồi thì không lấy ai làm nương ngô giả được nợ người ta, tao thì ốm yếu quá rồi. Không được, con ơi!
Mị chỉ bưng mặt khóc. Mị ném nắm lá ngón xuống đất, nắm lá ngón Mị đã tìm hái trong rừng, M ị vẫn giấu
trong áo. Thế là Mị không đành lòng chết Mị chết thì bố Mị còn khổ hơn bao nhiêu lần bây giờ nữa. Mị đành
trở lại nhà thống lí.
Mị buồn tủi, thờ ơ với cuộc sống xung quanh, buông xuôi cuộc đời cho số phận. Những năm tháng M ị s ống
với cha con tên thống lí Pá Tra là chuỗi dài đoạ đày, đau kh ổ. Danh nghĩa là con dâu nhà quan l ớn nh ưng th ực
chất Mị là đày tớ không công, là nô lệ mãn đời, bị coi rẻ hơn cả con trâu, con ngựa. Suốt ngày, M ị phải làm
việc quần quật không lúc nào ngơi; đến đêm lại phải thức để hầu hạ thằng chồng vũ phu, tàn ác. Đau kh ổ,
cực nhục đã cướp mất tuổi thanh xuân của Mị, biến cô thành người nhẫn nh ịn và cam ch ịu. M ọi c ảm xúc
dường như đã nguội lạnh. Cô gái Mông xinh đẹp, hồn nhiên đa tình đa cảm thu ở nào gi ờ đây ủ rũ, héo h ắt,
sống âm thầm như chiếc bóng, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa.
Người đọc không thể quên hình ảnh tội nghiệp của Mị ở phần m ở đầu tác phẩm: Ai ở xa v ề, có vi ệc vào
nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy có một cô con gái ng ồi quay s ợi gai bên t ảng đá tr ước c ửa, c ạnh tàu
ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe su ối lên, cô
ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi. Người ta thường nói: nhà Pá Tra làm th ống ăn c ủa dân nhi ều, đ ồn Tây
lại cho muối về bán, giàu lắm, nhà có nhiều nương, nhiều bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng. Th ế thì con gái
nó còn bao giờ phải xem cái khổ mà biết khổ, mà buồn. Nhưng rồi hỏi ra m ới rõ cô ấy không ph ải con gái
nhà Pá Tra: cô ấy là vợ A sử, con trai thống lí Pá Tra.
Dần dần, Mị cũng quen với nỗi khổ: Bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ng ựa...
chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi... Bao giờ cũng thế, su ốt năm su ốt đ ời nh ư th ế. Con ng ựa, con trâu
làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào vi ệc làm c ả
đêm cả ngày. Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó c ửa. Ở cái bu ồng M ị n ằm, kín
mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng chì thấy trăng trắng, không biết là
sương hay là nắng. Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đ ến bao gi ờ ch ết thì
thôi.
Không những bị đoạ đày về thể xác, Mị còn bị đè nén, áp bức về tinh thần. Cô chán sống nhưng không được
chết, vì Mị chết thì món nợ truyền kiếp kia vẫn còn và người cha già càng thêm đau kh ổ. B ắt bu ộc phải
sống nhưng Mị lại bị tước đoạt quyền sống tự do của một con người. Cuộc đời Mị bị trói buộc bằng quyền
lực, bằng tập tục mê tín dị đoan lâu đời của các dân tộc thiểu s ố vùng cao. M ị cho r ằng mình đã b ị b ắt v ề
làm vợ A Sử, bị con ma nhà thống lí nhận mặt: ...nó đã bắt ta v ề trình ma nhà nó r ồi thì ch ỉ còn bi ết đ ợi ngày
rũ xương ở đây thôi.
Cách đối xử tàn tệ, bất công của cha con tên thống lí làm cho Mị phải sống triền miên trong đau khổ. Cô
lặng lẽ ra vào như chiếc bóng, không có ai để chia sẻ tâm tình. Trong nh ững đêm đông dài và bu ồn, cô ch ỉ
biết làm bạn với ngọn lửa: ...nếu không có bếp lửa sưởi kia thì Mị cũng đến chết héo.
Ngọn lửa giúp Mị xua bớt phần nào bóng tối u ám, lạnh lẽo đang bao phủ lên s ố phận b ất h ạnh c ủa cô.
Không có người cảm thông với nỗi tủi nhục của mình, Mị phải tìm đến ngọn lửa và coi nó là người bạn duy
nhất, khổ sở biết chừng nào. Tác giả giúp người dọc hình dung rõ hơn về cuộc đời bế tắc của Mị qua hình
ảnh căn buồng kín mít, chỉ cố một lỗ cửa sổ bé bằng bàn tay. Ngồi ờ trong nhìn ra không biết là đêm hay
ngày, là sương hay là nắng.
3
Tất cả những ước muốn chính đáng dù là nhỏ nhoi của Mị đều bị th ằng ch ồng tàn bạo ngăn c ấm và d ập t ắt
một cách phũ phàng. Đêm xuân, Mị uống rượu, lòng bồi hồi nhớ tới nh ững đêm xuân thu ở còn con gái. M ị
thả hồn về ngày trước. Tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường khiến Mị muốn đi chơi. Mị định
thay váy áo đẹp để đi chơi. A Sử đi đâu về, thấy thế liền bước lại, nắm Mị, lấy thắt lưng trói hai tay Mị. Nó
xách cả một thúng sợi đay ra trói đứng Mị vào cột nhà. Tóc Mị xõa xuống, A S ử quấn luôn tóc lên c ột, làm
cho Mị không cúi, không nghiêng được đầu nữa. Trói xong vợ, A Sử thắt nối cái th ắt l ưng xanh ra ngoài áo
rồi A Sử tắt đèn, đi ra, khép cửa buồng lại. Hắn để mặc Mị trong đau đớn, tủi hờn giữa bóng đêm đen kịt.
Sau bao năm bị đọa đày trong nhà thống lí, mọi cảm xúc và tinh thần phản kháng của M ị hầu nh ư b ị tê li ệt.
Cuộc sống của Mị không còn ý nghĩa bởi cô cho rằng mình sống mà như đã chết. Tội ác c ủa b ọn lang đ ạo,
trong chế độ phong kiến thực dân chính là ở chỗ đã nhẫn tâm tước đoạt quyển sống chính đáng c ủa con
người, nhất là đối với phụ nữ. Cuộc đời Mị sẽ cứ thế trôi đi trong vô v ọng n ếu không có m ột s ự vi ệc b ất
ngờ xảy ra: cô đã cắt dây trói cứu A Phủ và cùng anh chạy trốn khỏi nhà th ống lí, sang t ới t ận Phi ềng Sa.
Cuối cùng, nhờ gặp được cán bộ cách mạng, được giác ngộ, M ị và A Ph ủ đã tr ở thành nh ững nhân t ố tích
cực ở khu du kích Phiềng Sa. Cô đã thực sự được sống, được làm người.
Trong xã hội phong kiến thực dân trước đây, người phụ nữ bị rẻ rúng, coi th ường, b ị t ước đo ạt quy ền s ống,
quyền tự do. Những ràng buộc bất công, phi lí đã kìm hãm phụ nữ về mọi mặt. Họ hầu như bị lệ thuộc
hoàn toàn vào người đàn ông. Không gian sống của người phụ nữ xưa chỉ quanh quẩn trong phạm vi gia đình
với công việc nội trợ, chăm sóc chồng con; vì thế mà họ không thể phát huy được những khả năng tiềm ẩn
của mình để đóng góp cho xã hội..
Ngày nay, quan niệm trọng nam khinh nữ tuy chưa thay đổi hoàn toàn nhưng người phụ nữ cũng đã được
hưởng những quyền lợi như nam giới và được xã hội tôn trọng. Phụ nữ được học tập, làm việc, cống hi ến
trong mọi lĩnh vực, kể cả lĩnh vực chính trị hay nghiên cứu khoa học t ưởng ch ừng ch ỉ dành riêng cho nam
giới, ở nhiều nước trên thế giới, phụ nữ đã vươn tới những địa vị tối cao như Tổng th ống, Thủ t ướng, Bộ
trưởng,... còn ở nước ta cũng đã có Phó Chủ tịch nước và nhiều ph ụ n ữ là giáo s ư, bác sĩ, doanh nhân... xu ất
sắc, mang lại vinh quang cho đất nước.
Được hưởng quyển bình đẳng với nam giới không có nghĩa là người phụ nữ coi nhẹ thiên chức làm v ợ, làm
mẹ. Ở ngoài xã hội, phụ nữ là những người tài giỏi, nhưng trong gia đình, h ọ vẫn là v ợ hi ền, con th ảo, là
người mẹ tận tụy và giàu tình yêu thương đối với các con.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng phụ nữ Việt Nam tám ch ữ vàng: Anh hùng, b ất khu ất, trung h ậu,
đảm đang. Trong thời đại mới, họ xứng đáng với lời khen: Giỏi việc nước, đảm việc nhà. Có sự thay đổi lớn
lao như vậy trong số phận của người phụ nữ là nhờ sự nghiệp cách mạng giải phóng giành l ại ch ủ quy ền
độc lập, tự do cho dân tộc và đất nước, Điều đặc biệt quan trọng là nhận th ức v ề vai trò c ủa ph ụ n ữ ngày
càng đúng đắn, tiến bộ. Do đó mà đóng góp của phụ nữ cho xã hội cũng ngày càng to lớn hơn.
4

