Phân tích tính sử thi trong truyện Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành
Nội dung tài liệu
Tải xuống
Link tài liệu:
Các tài liệu liên quan
Có thể bạn quan tâm
Thông tin tài liệu
Phân tích tính sử thi trong truyện Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành
Bài văn mẫu 1:
Nguyễn Trung Thành tên thật là Nguyễn Văn Báu. Ông v ốn là nhà văn tr ưởng
thành trong kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ . Ông là ngòi bút gắn bó với mảnh
đất Tây Nguyên, có nhiều thành tựu nhất khi viết về Tây Nguyên. Truy ện ng ắn
Rừng xà nu là tác phẩm đặc sắc của ông trong kháng chi ến ch ống M ỹ. Tác phẩm
mang đậm chất sử thi, viết về những vấn đề trọng đại c ủa dân t ộc; nhân v ật trung
tâm mang những phẩm chất chung tiêu biểu cho cộng đ ồng; gi ọng đi ệu ng ợi ca,
trang trọng, hào hùng.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơ-ne-vơ được kí k ết, đ ất nước
chia làm hai miền. Kẻ thù phá hoại hiệp định, khủng bố, thảm sát, lê máy chém đi
khắp miền Nam. Cách mạng rơi vào thời kì đen tối. Đầu năm 1965, Mĩ đổ quân ồ ạt
vào miền Nam và tiến hành đánh phá ác liệt ra miền Bắc. Rừng xà nu được viết vào
đúng thời điểm mà cả nước ta trong không khí sục sôi đánh Mĩ. Tác phẩm đ ược
hoàn thành ở khu căn cứ của chiến trường miền Trung Trung bộ.Thông qua câu
chuyện về những con người anh hùng ở một buôn làng hẻo lánh, bên nh ững cánh
rừng xà nu bạt ngàn, xanh bất tận, tác giả đã đặt ra một vấn đề có ý nghĩa l ớn lao
của dân tộc và thời đại: Để cho sự sống của đất nước và nhân dân mãi mãi tr ường
tồn, không có cách nào khác hơn là phải cùng nhau đ ứng lên, c ầm vũ khí đ ứng
chống lại kẻ thù tàn ác.
Trước hết nên hiểu thế nào là khuynh hướng sử thi trong văn học . Đó là một
khuynh hướng trong sáng tác nghệ thuật thiên về việc phản ánh những sự kiện có ý
nghĩa lịch sử và có tính cách toàn dân. Nhân vật trung tâm trong những tác phẩm viết
theo khuynh hướng sử thi thường là những con người đại diện cho giai cấp, cho dân
tộc với những phẩm chất cao cả, kết tinh những gì cao đẹp nhất của cộng đòng. Và
khi khẳng định, ngợi ca những anh hùng, những kì tích sáng chói …, ng ười ngh ệ sĩ
không nhân danh cá nhân mà nhân danh dân tộc, nhân danh c ộng đ ồng. Khuynh
hướng sử thi thường gắn liền với khuynh hướng lãng mạn.
Trong tác phẩm “Rừng xà nu”, khuynh hướng sử thi được thể hiện khá rõ ở
việc lựa chọn đề tài, việc xây dựng nhân vật, việc sử dụng hình ảnh lẫn giọng điệu
của tác phẩm … Đề tài của truyện “Rừng xà nu” nói đến vấn đề sinh tử hết s ức hệ
trọng không chỉ của cả cộng đồng dân làng Xô Man mà của cả dân tộc Việt Nam.
Truyện viết về một thời điểm lịch sử trọng đại của cách mạng Miền Nam nh ững
năm đen tối sau Hiệp định Giơ-ne-vơ cho đến lúc Đồng kh ởi, nh ưng đây là th ời
điểm tức nước vỡ bờ, nhân dân Miền Nam chuẩn bị vũ trang chi ến đấu . Chủ đề
của tác phẩm mang đậm tính sử thi : trước sự tàn ác của kẻ thù, nhân dân Miền
Nam chỉ có một con đường duy nhất là cầm vũ khí vùng lên chiến đấu giải phóng
quê hương.
Những nhân vật trong tác phẩm, tiêu biểu như Tnú, cụ Mết, thực chất là những
kết tinh cao độ những phẩm chất tiêu biểu của cả cộng đồng (gắn bó v ới dân làng,
trung thành với cách mạng, căm thù giặc sâu sắc, kiên cường bất khuất, dũng cảm
chiến đấu hi sinh …). Lí tưởng sống của những nhân vật này luôn gắn liền với vận
mệnh của cả cộng đồng. Hơn nữa, các nhân vật ở đây cũng đ ược xây d ựng th ể
hiện sự tiếp nối giữa các thế hệ cách mạng làng Xô Man. Cụ Mết đại diện cho th ế
hệ cách mạng từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp, cụ truy ền lại cho con cháu
truyền thống oanh liệt đó của dân làng; Tnú tiêu biểu cho ý chí và sức m ạnh c ủa cả
cộng đồng; Dít, Heng là thế hệ non trẻ tiếp nối cha anh … Vì thế, tất c ả s ố phận
của mọi nhân vật đều thống nhất với nhau, thống nhất với s ố phận của cả c ộng
đồng. Điều đó cũng thể hiện rõ nét tính sử thi của tác phẩm.
Rừng xà nu là tác phẩm in đậm tính sử thi. Đây là câu chuyện của một người,
một làng. Nhưng đặt vào hoàn cảnh Rừng xà nu được viết ra, thì đó cũng là câu
chuyện của một thời đại, một đất nước, một cuộc cách mạng..Như vậy, đây là chân
lí mang tầm lịch sử. Vì lẽ đó, nhà văn đã để cho nó đ ược nói lên b ằng gi ọng nói
thiêng liêng, như để mãi mãi khắc sâu vào kí ức. Chất sử thi toát lên qua đ ề tài, ch ủ
đề, cốt truyện, nhân vật, hình ảnh thiên nhiên, các chi tiết nghệ thuật, giọng điệu,
ngôn ngữ của tác phẩm.
Trong tác phẩm, hình tượng cây xà nu – rừng xà nu là một sáng t ạo nghệ thu ật
độc đáo của nhà văn, được xây dựng với cảm hứng sử thi hoành tráng, bút pháp lãng
mạn, kết tinh giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm.
Mở đầu tác phẩm, nhà văn tập trung giới thiệu về rừng xà nu, một rừng xà nu
cụ thể được xác định rõ: "nằm trong tầm đại bác của đồn giặc", nằm trong sự hủy
diệt bạo tàn: "Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào đồi xà nu cạnh con n ước l ớn".
Truyện mở ra một cuộc đụng độ lịch sử quyết liệt giữa làng Xô Man với b ọn MĩDiệm. Rừng xà nu cũng nằm trong cuộc đụng độ ấy. Xà nu hiện ra với t ư th ế c ủa
sự sống đang đối diện với cái chết, sự sinh tồn đối di ện v ới s ự h ủy di ệt. Cách m ở
của câu chuyện thật gọn gàng, cô đúc mà vẫn đầy uy nghi tầm vóc.V ới kĩ thuật
quay toàn cảnh, Nguyễn Trung Thành đã phát hiện ra: "cả rừng xà nu hàng vạn cây
không cây nào là không bị thương". Tác giả đã chứng kiến nỗi đau của xà nu: "có
những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình đổ ào ào nh ư m ột trận bão" . Rồi "có
những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người bị đạn đại bác chặt đứt làm đôi. Ở
những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn loóng, v ết th ương không lành đ ược c ứ
loét mãi ra, năm mười hôm sau thì cây chết" . Thương tích mà rừng xà nu phải gánh
chịu do đại bác của kẻ thù gợi nghĩ đến những mất mát đau th ương mà đ ồng bào
Xôman đã phải trải qua trong thời kì cách mạng miền Nam bị khủng bố khốc liệt.
Trong bom đạn chiến tranh, thương tích đầy mình cây xà nu vẫn hiên ngang v ươn
lên mạnh mẽ như người dân Tây Nguyên kiên cường bất khuất, không khuất ph ục
trước kẻ thù. Cây xà nu rắn rỏi, ham ánh nắng mặt trời tựa như người Xô man chân
thật, mộc mạc, phóng khoáng yêu cuộc sống tự do. Rừng xà nu bạt ngàn, rừng xà nu
trùng trùng lớp lớp các thế hệ nối tiếp cũng chính là thể hi ện s ự gắn bó, s ức m ạnh
đoàn kết và sự nối tiếp bất tận của các thế hệ, gợi liên tưởng đến s ức sống vô t ận,
bền bỉ, bất diệt của con người Xô man Rừng xà nu tạo thành m ột b ức t ường v ững
chắc hiên ngang truớc bom đạn cũng là biểu trưng cho sức mạnh đoàn k ết của
người dân Tây Nguyên khiến kẻ thù phải kiếp sợ.
Truyện còn xây dựng thành công một tập thể những người dân anh hùng của núi
rừng Tây Nguyên.
Cụ Mết là cội nguồn, là lịch sử, “là Tây Nguyên của thời Đất nước đứng lên
còn trường tồn cho đến hôm nay”. Cụ như một nhân vật huyền thoại từ hình dáng
cho đến tính cách: quắc thước như xưa, râu dài tới ngực và vẫn đen bóng, m ắt sáng
xếch ngược, ở trần, ngực căng như một cây xà nu lớn. M ột con ng ười tr ầm tĩnh,
sáng suốt, bền bỉ và vững chãi.Ngôn ngữ: cách nói c ủa c ụ cũng khác l ạ (không bao
giờ khen tốt, lúc vừa ý nhất cũng chỉ nói được). Tấm lòng của cụ với buôn làng, với
Tnú, với cách mạng là tấm lòng thuỷ chung, cưu mang đùm bọc, tình nghĩa. Cụ Mết
là khuôn mẫu của người già Tây Nguyên, yêu buôn làng, yêu nước, yêu cách m ạng,
tuổi cao chí càng cao. Hình ảnh cụ còn sống mãi v ới câu nói b ất h ủ: “Chúng nó đã
cầm súng, mình phải cầm giáo”.
Tnú là thế hệ nối tiếp của cụ Mết. Cuộc đời Tnú đã phải trải qua bao thử thách
khốc liệt từ thuở ấu thơ. Anh đã được hoàn cảnh hun đúc thành một con người có
nhiều phẩm chất đáng quý. Tnú có chữ, có văn hoá, lại sớm được giác ngộ cách
mạng, một con người gan góc, trung thực. Dũng cảm, kiên cường, trung thành với
cách mạng. Ngoài tình thương vợ con, Tnú còn là người nặng tình với buôn làng.
Tnú cũng chịu bao đau thương dưới bàn tay tội ác c ủa k ẻ thù. Cuộc đời Tnú là một
minh chứng hùng hồn rằng: “phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực
phản cách mạng”.
Dít là cô gái có vẻ đẹp trẻ trung, trong sáng. Gan góc, dũng c ảm.M ột cán b ộ
Đảng trẻ, có năng lực, nghiêm túc, tình cảm trong sáng, cao đẹp. Từ nh ỏ cô đã gan
dạ một mình mang cơm tiếp tế cho thanh niên du kích trong sự lùng bắt ráo tiết của
giặc. Cô cũng có cái nhìn bình thản khi bị trói vào gốc cây và nh ững viên đ ạn bay
sượt qua người.
Phác hoạ thành công một tập thể nhân vật anh hùng, Nguyễn Trung Thành đã
làm nên thành công của Rừng xà nu. Họ là hiện thân c ủa những ph ẩm ch ất anh
hùng, đẹp đẽ của các thế hệ nhân dân, tượng trưng cho các th ế h ệ ti ếp n ối nhau
của dân làng Xô Man. Thông qua hệ thống nhân vật đó, tác giả đã thể hiện sinh
động và nghệ thuật quy luật: có áp bức có đấu tranh, một chân lí c ủa cách m ạng
miền Nam: “chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Đó là vấn đề mang tính
trọngđại của dân tộc, góp phần thể hiện tính sử thi sâu sắc của tác phẩm.
Rừng xà nu mang vẻ đẹp của một khúc sử thi trong văn xuôi hiện đại. Đó là câu
chuyện bi tráng về cuộc đời của một người anh hùng đại diện cho cộng đồng được
già làng kể lại cho dân làng nghe trong một đêm rừng Tây Nguyên , bên bếp lửa
chung của làng với giọng kể trang nghiêm và hùng tráng. Lời văn trau chu ốt, giàu
hình ảnh tái hiện vẻ đẹp tráng lệ hào hùng rất riêng của cảnh vật và con người,
truyền thống văn hoá Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đau thương mà
anh dũng.
Bài văn mẫu 2
Sử thi là loại văn học đẹp đẽ, vàng son ra đời từ buổi bình minh lịch s ử nhân
loại. Nội dung tác phẩm thường ca ngợi chiến công của những người anh hùng trên
con đường dìu dắt dân tộc mình thoát khỏi thời đại tăm tối dã man sang thời đại văn
minh tiến bộ. Đây là thể loại đi không trở lại của lịch sự văn hóa nhân lo ại. Nh ững
tác phẩm sau này kể về chiến tích của người anh hùng, đề cập đến vấn đề c ốt yếu
của lịch sử không còn được gọi là tác phẩm sử thi mà chỉ được xem có dáng dấp s ử
thi, mang tính sử thi. Văn học Việt Nam thời kì 1945 – 1975 mà đ ặc bi ệt là nh ững
tác phẩm viết về chiến tranh cách mạng rất giàu tính sử thi, trong đó có truyện ngắn
Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành. Tính sử thi của truyện được thể hiện qua
chủ đề, bức tranh thiên nhiên, hình tượng nhân vật và qua ngôn ngữ trần thuật.
Cốt truyện Rừng xà nu kể về cuộc đời của Tnú và chuy ện chiến đấu của làng
Xô Man. Xung đột chính của truyện là xung đột giữa nhân dân cách m ạng v ới k ẻ
thù Mỹ ngụy. Dưới sự kìm kẹp của bọn ác ôn, dân làng Xô Man sống trong nh ững
ngày đen tối, ngột ngạt, căng thẳng vì bị khủng bố: chúng treo cổ anh Xút, chặt đ ầu
bà Nhan, đánh chết mẹ con Mai. Nỗi đau thương, lòng căm thù tích tụ d ần thành ý
chí chiến đấu bất khuất. Xung đột đã lên đến đỉnh đi ểm, cao trào nên đã bùng n ổ
thành cuộc chiến đấu dữ dội ở cuối truyện. Đó là đêm bọn giặc đánh mẹ con Mai
cho đến chết, Tnú người – cán bộ chỉ huy du kích bị rơi vào tay gi ặc. Dưới s ự chỉ
đạo của cụ Mết, bằng vũ khí thô sơ, dân làng đã trỗi dậy. Ngòi bút sử thi miêu t ả
cuộc chiến đấu hào hùng với những hình ảnh kì vĩ: ngàn tiếng thét vang dữ d ội,
tiếng chân người đạp trên sàn nhà ưng rào rào, ánh r ựa vung lên sáng loáng, ti ếng
chiêng trống vang lộng núi rừng. Đêm ấy cả làng Xô Man ào ào rung đ ộng và l ửa
cháy khắp rừng. Bằng những chi tiết hoành tráng, nhịp văn nhanh, tác giả đã miêu
tả khí thế thần tốc, dựng lên không khí cuộc chiến đấu: khẩn trương, náo n ức, d ữ
dội, quyết liệt, ngời sáng sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách m ạng. Trong
thoáng chốc bọn giặc nằm ngổn ngang dưới lưỡi mác của dân làng. Dân làng đã
vùng lên chiến đấu để giải phóng cuộc đời, chấm dứt thời kì đen t ối m ở ra cu ộc
chiến đấu trường kì, tự chủ.
Đó là câu chuyện chiến đấu của dân làng Xô Man, m ột s ự ki ện l ịch s ử tr ọng
đại liên quan đến vấn đề sống còn của cộng đồng được kể với giọng văn hào hứng.
Chủ đề của cốt truyện này là vấn đề cốt yếu của lịch sử được k ể lại v ới c ảm
hứng say mê ca ngợi nên mang đậm tính sử thi.
Hòa nhập và tương ứng với tầm vóc của chủ nhân là bức tranh thiên nhiên rừng
xà nu hùng vĩ mang vẻ đẹp sử thi.
Hình tượng cây xà nu được miêu tả xuyên suốt tác phẩm. Tác giả đã dành tr ọn
phần mở đầu truyện để miêu tả rừng xà nu. Trong khu rừng từng luồng nắng trên
cao rọi xuống những thân cây sóng lớp thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt b ụi vàng t ừ
nhựa cây bay ra thơm ngào ngạt, mỡ màng. Tác giả đã dựng đ ược khung c ảnh có
không gian ba chiều, tạo được không khí, làm sống dậy bức tranh thiên nhiên có v ẻ
đẹp tràn đầy chất thơ, tráng lệ. Thế nhưng dưới tội ác của kẻ thù, r ừng đã mang
trên mình những vết thương chiến tranh đau đớn, càng đau đớn rừng xà nu càng trào
lên sức sống mãnh liệt: cạnh một cây đã ngã, có bốn năm cây con m ọc lên ng ọn
xanh rờn, nhanh chóng liền lại vết sẹo trên cơ thể cường tráng. Và khúc vĩ thanh
của truyện: cả khu rừng lớn bạt ngàn, đến hết tầm mắt cũng không thấy gì khác
ngoài những đồi xà nu nối tiếp chân trời. Bám rễ sâu trong lòng đất, những thân cao
vươn lên đón nắng trời, ngàn năm như vẫn còn hát ru v ới gió… Thiên nhiên đ ược
miêu tả với sức sống to lớn, hùng mạnh, bất diệt. Vẻ đẹp hào hùng, tráng lệ và bi
thương của rừng hòa nhập với cuộc đời bi tráng của dân làng, nên rừng xà nu góp
phần tạo ra vẻ đẹp sử thi, chất thơ của thiên truyện.
Khi tái hiện một đoạn trường lịch sử đánh giặc ngoại xâm, tác giả đã xây d ựng
một tập thể anh hùng trong đó nổi bật tính cách anh hùng. C ụ M ết là nhân v ật l ịch
sử. Cụ là biểu tượng của sức mạnh tinh thần và có tính truyền thống của dân tộc
Strá. Trong một tài liệu khác, tác giả bảo rằng: Ông là lịch sử bao trùm, g ắn k ết
giữa quá khứ với hiện tại. Cụ là người đại diện cho quần chúng cách mạng, là gạch
nối giữa Đảng với đồng bào dân tộc. Và vai trò của c ụ M ết th ể hi ện r ất rõ trong
đêm đồng khởi và là người phát lệnh chiến tranh: Thế là bắt đ ầu rồi… đ ốt l ửa lên.
Chân lí đấu tranh cách mạng được rút ra từ thực tiễn chiến đấu giản dị mà sâu s ắc:
chúng nó cầm súng, mình phải cầm giáo. Cụ Mết đại diện cho s ức mạnh, ý chí
chiến đấu, trí tuệ và nguyện vọng của cộng đồng, là pho sử sống của c ộng đồng,
có ý thức giữ gìn lịch sử và là người đại diện cho lịch sử nên nhân v ật này mang
đậm tính sử thi.
Đại diện cho tập thể anh hùng là Tnú – đứa con của dân làng Xô Man, c ủa núi
rừng Tây Nguyên. Ngay từ nhỏ, Tnú đã tự thể hiện mình là con người gan góc, dũng
cảm: xung phong đi nuôi cán bộ. Khi đi làm giao liên Tnú đã dũng cảm vượt qua bao
khó khăn, Tnú không đi theo đường mòn, đường nước êm, mà bao giờ cũng chọn lối
đi mà bọn giặc không ngờ tới.
Thế nhưng, trong một lần Tnú rơi vào ổ phục kích, bị giặc bắt, tra t ấn r ất dã
man nhưng Tnú không khai, vẫn hiên ngang và dám thách th ức k ẻ thù. Tnú là m ột
chiến sĩ có phẩm chất đẹp đã được thử thách qua máu l ửa: kiên tr ường, b ất khu ất,
gan góc, dũng cảm, thủy chung với cách mạng, tinh thần sẵn sàng hi sinh cho s ự
nghiệp cứu nước. Những vẻ đẹp ấy tiêu biểu cho phẩm chất của cộng đồng.
Sau ba năm ở tù, Tnú vượt ngục trở về làng và đã có một mái ấm gia đình hạnh
phúc với Mai. Nhưng thời gian sau bi kịch đã xảy ra, b ọn gi ặc hung b ạo đã gi ết m ẹ
con Mai, Tnú một lần nữa rơi vào tay giặc, bị tra tấn dã man. Tnú thà hi sinh ch ứ
không chịu đầu hàng, cắn răng chịu đựng đau đớn, mất mát ch ứ không đ ể k ẻ thù
khuất phục. Hình tượng Tnú trước giặc thù sừng sững hiên ngang như cây xà nu.
Cuộc đời Tnú là khúc ca bi tráng. Số phận cuộc đời và tính cách c ủa Tnú có ý nghĩa
tiêu biểu cho cộng đồng nên nhân vật này mang đậm tính sử thi.
Ngoài ra, nhân vật Dít, bé Heng cũng có nét đ ẹp sử thi. H ọ đ ại di ện cho các th ế
hệ anh hùng nhanh chóng trưởng thành lớn mạnh như cây xà nu, thay thế lớp người
đi trước, gánh vác nhiệm vụ lịch sử nối tiếp bước chân cha anh trong cu ộc kháng
chiến trường kỳ.
Vẻ đẹp sử thi còn thể hiện qua hình thức trần thuật của truyện. Truyện có cách
tổ chức trần thuật rất hấp dẫn, hai cốt truyện được lồng vào nhau: chuy ện Tnú sau
ba năm đi lực lượng về thăm làng và chuyện chiến đấu cách đó ba năm. C ốt truy ện
chính kể về cuộc đời Tnú và cuộc nổi dậy của làng Xô Man được đẩy vào th ời kì
quá khứ. Nó được ghi nhớ trong hồi ức của cộng đồng, được soi chiếu bởi kỉ niệm,
hoài niệm nên thật đẹp. Khi đẩy câu chuyện chiến đấu v ề th ời quá kh ứ, tác gi ả đã
tạo ra khoảng cách sử thi, để cho người hôm nay ngưỡng mộ, chiêm bái câu chuyện
lịch sử hào hùng và nhân vật anh hùng của cộng đồng ngày xưa. Cách kể giống như
cách kể khan (trường ca) của đồng bào Tây Nguyên, bên bếp lửa chung, già làng k ể
cho đám con cháu nghe suốt đêm không chán. Không khí k ể chuy ện r ất trang
nghiêm, mọi người ngồi tại nhà ưng im lặng lắng nghe, chỉ tiếng suối rì rào xa xa.
Thái độ và giọng điệu của người kể rất trang trọng, như muốn truyền vào thế hệ
con cháu những trang sử của cộng đồng. Cách trần thuật, gi ọng đi ệu, ngôn ng ữ
trang trọng làm cho câu chuyện được kể càng mang đậm tính sử thi.
Tác giả đã xây dựng những hình tượng có vẻ đẹp lớn lao, hùng vĩ, mang âm
hưởng tráng ca: rừng xà nu, đêm đồng khởi… nhờ vậy mà đã tái hiện lại một thời
lịch sử oai hùng, tô đậm chất sử thi. Câu chuy ện lịch s ử, câu chuy ện v ề ng ười anh
hùng đánh giặc được miêu tả, kể lại bởi bút pháp sử thi là thành công của Nguy ễn
Trung Thành. Rừng xà nu là tác phẩm tiêu biểu cho khuynh hướng sử thi, anh hùng
ca của văn xuôi thời kì 1945 – 1975.

