Phân tích bài thơ Tràng giang của Huy Cận
Nội dung tài liệu
Tải xuống
Link tài liệu:
Các tài liệu liên quan
Có thể bạn quan tâm
Thông tin tài liệu
TRÀNG GIANG
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.
Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng,
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
(Văn học 11, Tập một, NXB Giáo dục, tái bản 2005, tr.143)
Tràng Giang của Huy Cận là bài thơ mang vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại.
Anh/chị hãy phân tích bài thơ Tràng Giang để làm sáng tỏ nhận xét trên.
Bài làm:
Nhà thơ Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận, với giọng thơ rất riêng đã kh ẳng đ ịnh
tên tuổi của mình trong phong trào thơ mới 1930-1945. Ông vốn quê quán H ương S ơn,
Hà Tĩnh, sinh năm 1919 và mất năm 2005. Trước Cách mạng tháng Tám, th ơ ông mang
nỗi sầu về kiếp người và ca ngợi cảnh đẹp của thiên nhiên, tạo vật v ới các tác ph ẩm
tiêu biểu như: "Lửa thiêng", "Vũ trụ ca", Kinh cầu tự". Nh ưng sau Cách m ạng tháng
1
Tám, hồn thơ của ông đã trở nên lạc quan, được khơi nguồn từ cuộc sống chiến đấu
và xây dựng đất nước của nhân dân lao động: "Trời mỗi ngày lại sáng", "Đ ất n ở hoa",
"Bài thơ cuộc đời"... Vẻ đẹp thiên nhiên nỗi ưu sầu nhân thế, một nét thơ tiêu biểu của
Huy Cận, được thể hiện khá rõ nét qua bài thơ "Tràng Giang". Đây là m ột bài th ơ hay,
tiêu biểu và nổi tiếng nhất của Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám. Bài th ơ đ ược
trích từ tập "Lửa thiêng", được sáng tác khi Huy Cận đứng ở bờ Nam b ến Chèm sông
Hồng, nhìn cảnh mênh mông sóng nước, lòng vời vợi buồn, cám cảnh cho ki ếp ng ười
nhỏ bé, nổi trôi giữa dòng đời vô định. Mang nỗi u buồn hoài nh ư th ế nên bài th ơ v ừa
có nét đẹp cổ điển lại vừa đượm nét hiện đại, đem đ ến s ự thích thú, yêu m ến cho
người đọc.
Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài
Sóng gợi tràng giang buồn điệp điệp
....
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
Ngay từ thi đề, nhà thơ đã khéo gợi lên vẻ đẹp cổ điển lại hi ện đ ại cho bài th ơ.
"Tràng giang" là một cách nói chệch đầy sáng tạo của Huy Cận. Hai âm "ang" đi li ền
nhau đã gợi lên trong người đọc cảm giác về con sông, không chỉ dài vô cùng mà còn
rộng mênh mông, bát ngát. Hai chữ "tràng giang" mang sắc thái c ổ điển trang nhã, g ợi
liên tưởng về dòng Trường giang trong thơ Đường thi, một dòng sông của muôn thuở
vĩnh hằng, dòng sông của tâm tưởng.
Tứ thơ "Tràng giang" mang nét cổ điển như thơ xưa: Nhà thơ thường ẩn đằng sau
cái mênh mông sóng nước, không như các nhà thơ mới thường thể hiện cái tôi c ủa
mình. Nhưng nếu các thi nhân xưa tìm đến thiên nhiên đ ể mong hoà nh ập, giao c ảm,
Huy cận lại tìm về thiên nhiên để thể hiện nổi ưu tư, buồn bã v ề ki ếp ng ười cô đ ơn,
nhỏ bé trước vũ trụ bao la. Đó cũng là vẻ đẹp đầy sức quyến rũ của tác phẩm, ẩn chứa
một tinh thần hiện đại.
Câu đề từ giản dị, ngắn gọn với chỉ bảy chữ nhưng đã thâu tóm được cảm xúc
chủ đạo của cả bài: "Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài". Trước cảnh "trời rộng",
"sông dài" sao mà bát ngát, mênh mông của thiên nhiên, lòng con người d ấy lên tình
2
cảm "bâng khuâng" và nhớ. Từ láy "bâng khuâng" được sử dụng rất đắc địa, nó nói lên
được tâm trạng của chủ thể trữ tình, buồn bã, u sầu, cô đơn, l ạc lõng. Và con "sông
dài", nghe miên man tít tắp ấy cứ vỗ sóng đều đặn khắp các khổ thơ, cứ cu ộn sóng lên
mãi trong lòng nhà thơ làm rung động trái tim người đọc.
Và ngay từ khổ thơ đầu, người đọc đã bắt gặp những con sóng lòng đầy ưu t ư,
sầu não như thế:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Vẻ đẹp cổ điển của bài thơ được thể hiện khá rõ ngay t ừ b ốn câu đ ầu tiên này.
Hai từ láy nguyên "điệp điệp", "song song" ở cuối hai câu th ơ mang đ ậm s ắc thái c ổ
kính của Đường thi. Và không chỉ mang nét đẹp ấy, nó còn đầy sức gợi hình, g ợi liên
tưởng về những con sóng cứ loang ra, lan xa, gối lên nhau, dòng nước thì cứ cuốn đi xa
tận nơi nào, miên man miên man. Trên dòng sông g ợi sóng "đi ệp đi ệp", n ước "song
song" ấy là một "con thuyền xuôi mái", lững lờ trôi đi. Trong c ảnh có sự chuy ển đ ộng
là thế, nhưng sao chỉ thấy vẻ lặng tờ, mênh mông của thiên nhiên, m ột dòng "tràng
giang" dài và rộng bao la không biết đến nhường nào.
Dòng sông thì bát ngát vô cùng, vô tận, nỗi buồn c ủa con ng ười cũng đầy ăm ắp
trong lòng
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Thuyền và nước vốn đi liền nhau, thuyền trôi đi nhờ nước xô, nước vỗ vào
thuyền. Thế mà Huy Cận lại thấy thuyền và nước đang chia lìa, xa cách "thuy ền v ề
nước lại", nghe sao đầy xót xa. Chính lẽ vì thế mà gợi nên trong lòng người nỗi "s ầu
trăm ngả". Từ chỉ số nhiều "trăm" hô ứng cùng từ chỉ số "mấy" đã thổi vào câu thơ nỗi
buồn vô hạn.
Tâm hồn của chủ thể trữ tình được bộc lộ đầy đủ nhất qua câu thơ đặc sắc: "Củi
một càng khô lạc mấy dòng". Huy Cận đã khéo dùng phép đảo ng ữ k ết h ợp v ới các t ừ
3
ngữ chọn lọc, thể hiện nổi cô đơn, lạc lõng trước vũ trụ bao la. "Một" gợi lên sự ít ỏi,
nhỏ bé, "cành khô" gợi sự khô héo, cạn kiệt nhựa sống, "lạc" mang n ỗi s ầu vô đ ịnh,
trôi nổi, bập bềnh trên "mấy dòng" nước thiên nhiên rộng lớn mênh mông. Cành c ủi
khô đó trôi dạc đi nơi nào, hình ảnh giản dị, không tô vẽ mà sao đầy rợn ngợp, khi ến
lòng người đọc cảm thấy trống vắng, đơn côi.
Nét đẹp cổ điển "tả cảnh ngụ tình" thật khéo léo, tài hoa của tác giả, đã gợi mở về
một nỗi buồn, u sầu như con sóng sẽ còn vỗ mãi ở các khổ thơ còn l ại đ ể ng ười đ ọc
có thể cảm thông, thấu hiểu về một nét tâm trạng thường gặp ở các nhà th ơ m ới.
Nhưng bên cạnh đó ta cũng nhìn ra một vẻ đẹp hiện đại rất thi vị của khổ thơ. Đó là ở
cách nói "Củi một cành khô" thật đặc biệt, không chỉ thâu tóm cảm xúc của toàn kh ổ,
mà còn hé mở tâm trạng của nhân vật trữ tình, một nỗi niềm đơn côi, lạc lõng.
Nỗi lòng ấy được gợi mở nhiều hơn qua hình ảnh quạnh vắng của không gian
lạnh lẽo:
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Hai từ láy "lơ thơ" và "đìu hiu" được tác giả khéo sắp xếp trên cùng m ột dòng th ơ
đã vẽ nên một quang cảnh vắng lặng. "Lơ thơ" gợi sự ít ỏi, bé nhỏ "đìu hiu" lại gợi sự
quạnh quẽ. Giữa khung cảnh "cồn nhỏ", gió thì "đìu hiu", một khung cảnh l ạnh l ẽo,
tiêu điều ấy, con người trở nên đơn côi, rợn ngộp đến độ thốt lên "Đâu tiếng làng xa
vãn chợ chiều". Chỉ một câu thơ mà mang nhiều sắc thái, vừa gợi "đâu đó", âm thanh
xa xôi, không rõ rệt, có thể là câu hỏi "đâu" như một nỗi ni ềm khao khát, mong m ỏi
của nhà thơ về một chút sự hoạt động, âm thanh sự sống của con người. Đó cũng có
thể là "đâu có", một sự phủ định hoàn toàn, chung quanh đây chẳng h ề có chút gì s ống
động để xua bớt cái tịch liêu của thiên nhiên.
Đôi mắt nhân vật trữ tình nhìn theo nắng, theo dòng trôi của sông:
"Nắng xuống, trời lên sâu chót vót,
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu."
"Nắng xuống, trời lên" gợi sự chuyển động, mở rộng về không gian, và g ợi c ả s ự
chia lìa: bởi nắng và trời mà lại tách bạch khỏi nhau. "sâu chót vót" là c ảnh di ễn đ ạt
4
mới mẻ, đầy sáng tạo của Huy Cận, mang một nét đẹp hi ện đ ại. Đôi m ắt nhà th ơ
không chỉ dừng ở bên ngoài của trời, của nắng, mà như xuyên thấu và c ả vũ tr ụ, c ả
không gian bao la, vô tận. Cõi thiên nhiên ấy quả là mênh mông v ới "sông dài, tr ời
rộng", còn những gì thuộc về con người thì lại bé nhỏ, cô đơn biết bao: "bến cô liêu".
Vẻ đẹp cổ điển của khổ thơ hiện ra qua các thi liệu quen thuộc trong Đường thi
như: sông, trời, nắng, cuộc sông cón người thì buồn tẻ, chán chường với "vãn ch ợ
chiều", mọi thứ đã tan rã, chia lìa.
Nhà thơ lại nhìn về dòng sông, nhìn cảnh xung quanh mong mỏi có chút gì quen
thuộc mang lại hơi ấm cho tâm hồn đang chìm vào giá l ạnh, v ề cô đ ơn. Nh ưng thiên
nhiên đã đáp trả sự khao khát ấy bằng những hình ảnh càng quạnh quẽ, đìu hiu:
Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng,
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cần gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
Hình ảnh cánh bèo trôi bồng bềnh trên sông là hình ảnh th ường dùng trong th ơ c ổ
điển, nó gợi lên một cái gì bấp bênh, nổi trôi c ủa ki ếp ng ười vô đ ịnh gi ữa dòng đ ời.
Nhưng trong thơ Huy Cận không chỉ có một hay hai cánh bèo, mà là "hàng nối hàng".
Bèo trôi hàng hàng càng khiến lòng người rợn ngộp trước thiên nhiên, để từ đó cõi lòng
càng đau đớn, cô đơn. Bên cạnh hàng nối hàng cánh bèo là "bờ xanh tiếp bãi vàng" nh ư
mở ra một không gian bao la vô cùng, vô tận, thiên nhiên nối ti ếp thiên nhiên, d ường
không có con người, không có chút sinh hoạt của con người, không có s ự giao hoà, n ối
kết:
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật.
Tác giả đưa ra cấu trúc phủ định. "...không...không" để phủ định hoàn toàn những
kết nối của con người. Trước mắt nhà thơ giờ đây không có chút gì gợi niềm thân mật
để kéo mình ra khỏi nỗi cô đơn đang bao trùm, vây kín, ch ỉ có m ột thiên nhiên mênh
mông, mênh mông. Cầu hay chuyến đò ngang, phương tiện giao kết của con người,
dường như đã bị cõi thiên nhiên nhấn chìm, trôi đi nơi nào.
5
Huy Cận lại khéo vẽ nét đẹp cổ điển và hiện đại cho bầu trời trên cao:
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.
Bút pháp chấm phá với "mây cao đùn núi bạc" thành "lớp lớp" đã khiến người đ ọc
tưởng tượng ra những núi mây trắng được ánh nắng chiếu vào như dát b ạc. Hình ảnh
mang nét đẹp cổ điển thật trữ tình và lại càng thi v ị h ơn khi nó đ ược kh ơi ngu ồn c ảm
hứng từ một tứ thơ Đường cổ của Đỗ Phủ:
Mặt đất mây đùn cửa ải xa.
Huy Cận đã vận dụng rất tài tình động từ "đùn", khiến mây như chuy ển đ ộng, có
nội lực từ bên trong, từng lớp từng lớp mây cứ đùn ra mãi. Đây cũng là một nét thơ đầy
chất hiện đại, bởi nó đã vận dụng sáng tạo từ thơ cổ điển quen thuộc.
Và nét hiện đại càng bộc lộ rõ hơn qua dấu hai chấm thần tình trong câu th ơ sau.
Dấu hai chấm này gợi mối quan hệ giữa chim và bóng chiều: Chim nghiêng cánh nh ỏ
kéo bóng chiều, cùng sa xuống mặt tràng giang, hay chính bóng chi ều sa, đè n ặng lên
cánh chim nhỏ làm nghiêng lệch cả đi. Câu thơ tả không gian nhưng gợi được thời gian
bởi nó sử dụng "cánh chim" và "bóng chiều", vốn là những hình tượng th ẩm m ỹ đ ể tả
hoàng hôn trong thơ ca cổ điển.
Nhưng giữa khung cảnh cổ điển đó, người đọc lại bắt gặp nét tâm trạng hiện đại:
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
"Dợn dợn" là một từ láy nguyên sáng tạo của Huy Cận, chưa t ừng th ấy tr ước đó.
Từ láy này hô ứng cùng cụm từ "vời con nước" cho thấy một nổi niềm bâng khuâng,
cô đơn của "lòng quê". Nỗi niềm đó là nỗi niềm nhớ quê h ương khi đang đ ứng gi ữa
quê hương, nhưng quê hương đã không còn. Đây là nét tâm trạng chung của nhà th ơ
mới lúc bây giờ, một nỗi lòng đau xót trước cảnh mất nước.
Bên cạnh tâm trạng hiện đại ấy là từ thơ cổ điện được gợi từ câu thơ: "Trên sông
khói sóng cho buồn lòng ai" của Thôi Hiệu. Xưa Thôi Hiệu c ần v ịn vào sóng đ ể mà
buồn, mà nhớ, còn Huy Cận thì buồn mà không cần ngoại cảnh, bởi từ nỗi buồn nó đã
6
sâu sắc lắm rồi. Thế mới biết tấm lòng yêu quê hương thắm thiết đến nhường nào
của nhà thơ hôm nay.
Cả bài thơ vừa mang nét đẹp cổ điển, vừa mang nét hiện đại. V ẻ đ ẹp c ổ đi ển
được thể hiện qua lối thơ bảy chữ mang đậm phong vị Đường thi, qua cách dùng t ừ
láy nguyên, qua việc sử dụng các thi liệu cổ điển quen thu ộc nh ư: mây, sông, cánh
chim... Và trên hết là cách vận dụng các tứ thơ cổ điển, gợi cho bài thơ không khí cổ
kính, trầm mặc của thơ Đường.
Vẻ đẹp hiện đại lan toả qua các câu chữ sáng tạo, độc đáo của nhà th ơ nh ư "sâu
chót vót", dấu hai chấm thần tình. Nhưng vẻ đẹp ấy đọng lại cuối cùng là tâm tr ạng
nhớ quê hương ngay khi đứng giữa quê hương, nét tâm trạng hiện đại của các nhà tri
thức muốn đóng góp sức mình cho đất nước mà đành bất lực, không làm gì được.
Bài thơ sẽ còn mãi đi vào lòng người với phong cách tiêu bi ểu r ất "Huy C ận", v ới
vẻ đẹp cổ điển trang nhã sâu lắng và vẻ đẹp hiện đại mang n ặng m ột t ấm lòng yêu
nước, yêu quê hương.
---------------------------------
7

