Phân tích bài thơ Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão
Nội dung tài liệu
Tải xuống
Link tài liệu:
Các tài liệu liên quan
Có thể bạn quan tâm
Thông tin tài liệu
Doc24.vnPhân tích bài thơ Thuật hoài (Tỏ lòng) của Phạm Ngũ LãoBài tham khảo 1Phạm Ngũ Lão (1255 1320), người làng Phù ủng, huyện Đường Hào, naythuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, là một danh tướng đời Trần. Tuy xuất thân từtầng lớp bình dân song chí lớn tài cao nên ông nhanh chóng trở thành tùy tướng sốmột bên cạnh Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Phạm Ngũ Lão từng thamgia hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông, ông cùng nhữngtên tuổi lớn khác của triều đình đã lập nên nhiều chiến công hiển hách, góp phầnquan trọng tạo nên hào khí Đông của thời đại đó.Phạm Ngũ Lão làm bài Thuật hoài vào cuối nằm 1284, khi cuộc kháng chiếnlần thứ hai đã đến rất gần. Bài thơ này là một tác phẩm nổi tiếng, được lưu truyểnrộng rãi vì nó bày tỏ khát vọng mãnh liệt của tuổi trẻ trong xã hội phong kiếnđương thời: làm trai phải trả cho xong món nợ công danh, có nghĩa là phải thựchiện đến cùng lí tưởng trung quân, ái quốc.Nội dung bài thơ khắc họa nổi bật vẻ đẹp của một con người có sức mạnh, cólí tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại.Phiên âm chữ Hán:Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu,Tam quân tì hổ khí thôn ngưu.Nam nhi vị liễu công danh trải, Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.Dịch thơ tiếng Việt: Múa giáo non sông trải mấy thu,Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu.Công danh nam tử còn vương nợ,Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.(Bùi Văn Nguyên dịch)Bài thơ được Phạm Ngũ Lão sáng tác trong bối cảnh đặc biệt có một khônghai của lịch sử nước nhà. Triều đại nhà Trần (1226 1400) là một triều đại lẫyDoc24.vnlừng với bao chiến công vinh quang, mấy lần quét sạch quân xâm lược Nguyên –Mông hung tàn ra khỏi bờ cõi, giữ vững sơn hà xã tắc, nêu cao truyền thống bấtkhuất của dân tộc Đại Việt.Phạm Ngũ Lão sinh ra và lớn lên trong thời đại ấy nên ông sớm thấm nhuầntinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc và nhất là lí tưởng trung quân, ái quốccủa đạo Nho. Ông nhận thức rất rõ ràng về trách nhiệm công dân trước vận mệnhcủa đất nước: Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách.Bài thơ có nhan đề chữ Hán là Thuật hoài: Thuật là kể lại, là bày tỏ; hoài là nỗilòng. Dịch thành Tỏ lòng, nghĩa là bày tỏ khát vọng, hoài bão trong lòng. Chủ thểtrữ tình đây là vị danh tướng trẻ tuổi đang chỉ huy quân đội làm nhiệm vụ gìngiữ non sông.Nguyên tác Thuật hoài bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn tứ tuyệt luật Đường,niêm luật chặt chệ, tứ hàm súc, hình tượng kì vĩ, âm điệu hào hùng, hai câu thơđầu, tác giả bày tộ niềm tự hào to lớn về quân đội của triều đình; trong đó có mình– một vị tướng. Nhà thơ đã khắc họa vẻ đẹp gân guốc, lẫm liệt, tràn đầy sức sốngcủa những chiến binh quả cảm.Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu Dịch nghĩa: Cầm ngang ngọn giáo bảo vệgiang sơn đã mấy mùa thu Dịch thơ: Múa giáo non sông trải mấy thu. So vớinguyên văn chữ Hán thì câu thơ dịch chưa lột tả được hết chất oai phong, kiêuhùng trong tư thế của người lính đang chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Hoành sóc làcầm ngang ngọn giáo. Luôn tư thế tấn công dũng mãnh, áp đảo quân thù. Tư thếcủa những con người chính nghĩa lồng lộng trong không gian rộng lớn là giangsơn đất nước suốt một thời gian dài. Có thể nói đây là hình tượng chủ đạo, tượngtrưng cho dân tộc Đại Việt quật cường, không một kẻ thù nào khuất phục được. Từhình tượng ấy, ánh hào quang của chủ nghĩa yêu nước ngời ngời tỏa sáng.Câu thơ thứ hai: Tam quân tì hổ khí thôn ngưu Dịch nghĩa: Ba quân như hổbáo, khí thế hùng dũng nuốt trôi trâu. Dịch thơ: Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâuđặc tả khí thế chiến đấu và chiến thắng không gì ngăn cản nổi của quân dân ta.Hai câu tứ tuyệt chi mười bốn chữ ngắn gọn, cô đúc nhưng đã tạc vào thờiDoc24.vngian một bức tượng đài tuyệt đẹp về người lính quả cảm với khí thế dũng mãnh,sẵn sàng xả thân giết giặc cứu nước của đạo quân Sát Thát nổi tiếng đời Trần.Là một thành viên trong đạo quân anh hùng ấy, Phạm Ngũ Lão từ một chiếnbinh dày dạn đã trở thành một danh tướng khi tuổi còn rất trẻ. Trong con ngườiông luôn sôi sục khát vọng công danh của đấng nam nhi thời loạn. Mặt tích cựccủa khát vọng công danh ấy chính là muốn được chiến đấu, cống hiến đời mìnhcho vua, cho nước. Như bao kẻ sĩ cùng thời, Phạm Ngũ Lão tôn thờ lí tưởng trungquân, ái quốc và quan niệm: Làm trai đứng trong trời đất, Phải có danh gì vớinúi sông (Chí làm trai Nguyễn Công Trứ). Bởi thế cho nên khi chưa trả hết nợcông danh thì bản thân tự lấy làm hổ thẹn:Nam nhi vị liễu công danh trái,Tu thính nhân gian thuyết Vũ hẩu.(Công danh nam tử còn vương nợ,Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.)Câu thứ ba, thứ tư nói lên khát vọng của Phạm Ngũ Lão là tận tâm phụng sựtriều đại nhà Trần cho đến hết đời, lập được công danh sánh ngang với Gia CátLượng. Gia Cát Lượng (Khổng Minh) là quân sư số một của LƯU Bị, có mưu trítuyệt vời. Song điểm làm cho Gia Cát Lượng nổi tiếng lại là lòng tuyệt đối trungthành với chủ. Ông đã từng phát biểu quan điểm của mình là: Cúi mình tận tụy,đến chết mới thôi. Trở lại câu thơ thứ nhất, ta thấy Phạm Ngũ Lão mới phụng sựđược có mấy thu (tức là mấy năm), muốn được như Gia Cát Lượng thì ông cònphải phụng sự nhiều lắm, lâu lắm! Câu thơ thứ tư: Luống thẹn tai nghe chuyện Vũhầu thực chất là một lời thề suốt đời trung thành với chủ tướng Trần Hưng Đạocủa Phạm Ngũ Lão.Hai câu thơ sau âm hưởng khác hẳn hai câu thơ trước. Cảm xúc hào sảng banđầu dần chuyển sang trữ tình, sâu lắng, như lời mình nói với mình. Như thế ta cóthể hiểu vì sao mà Phạm Ngũ Lão lại dùng từ thẹn. Cũng có thể đây là cách nói thểhiện khát vọng, hoài bão của ông là muốn noi gương thần tượng của mình, muốnsánh với Vũ hầu.Doc24.vnLấy gương sáng trong lịch sử cổ kim rồi soi mình vào đó mà so sánh, phấn đấuvươn lên cho bằng người, đó là tòng tự ái, tự trọng đáng quý cẩn phải có mộtđấng trượng phu. Là một tùy tướng thân cận của Hưng Đạo Đại vương Trần QuốcTuấn, Phạm Ngụ Lão luôn sát cánh bên cạnh chủ tướng, chấp nhận xông pha nơilàn tên mũi đạn, làm gương cho ba quân tướng sĩ. Ông đã dồn hết tài năng, tâmhuyết để tìm ra những cách đánh thần kì nhất nhằm quét sạch quân xâm lược rakhỏi bờ cõi.Phạm Ngũ Lão suy nghĩ rất cụ thể và thiết thực: một ngày còn bóng quân thùlà nợ công danh của tuổi trẻ với giang sơn xã tắc vẫn còn vương, chưa trả hết. Mànhư vậy tức là phận sự với vua, với nước chưa tròn, khát vọng công danh chưathỏa. Cách nghĩ, cách sống của Phạm Ngũ Lão rất tích cực, tiến bộ. Ông muốnsống cho xứng đáng với thời đại anh hùng, dân tộc anh hùng.Phạm Ngũ Lão là một võ tướng tài ba nhưng lại có trái tim vô cùng nhạy cảmcủa một thi nhân. Thuật hoài là bài thơ trữ tình bày tỏ được hùng tâm tráng khí vàhoài bão lớn lao của tuổi trẻ đương thời. Bài thơ có tác dụng giáo dục sâu sắc vềnhân sinh quan và lối sống tích cực đối với thanh niên mọi thời đại. Thuật hoài đãvinh danh vị tướng trẻ văn võ song toàn Phạm Ngũ Lão đến muôn đời sau.Bài tham khảo 2Khi nói đến Phạm Ngũ Lão, chúng ta liền nhớ đến người anh hùng xuất thân ởtầng lớp bình dân, ngồi đan sọt mà lo việc nước. Về sau, chàng trai làng Phù Ủngấy đã trở thành nhân vật lịch sử từng có công lớn trong kháng chiến chống quânNguyên-Mông,giữ địa vị cao đời Trần.Khí thế hào hùng, oanh liệt của nhân dân ta và tướng sĩ đời Trần được các sửgia ngợi ca là “Hào khí Đông A”. Thơ văn đời Trần là tiếng nói của những anhhùng thi sĩ dào dạt cảm hứng yêu nước mãnh liệt. “Hịch tướng sĩ” của TrầnQuốc Tuấn, “Thuật hoài” (Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão, “Bạch Đằng giang phú”của Trương Hán Siêu.v.v… là những kiệt tác chứa chan tình yêu nước và niềm tựhào dân tộc.Phạm Ngũ Lão (1255-1320) là một danh tướng đời Trần, trăm trận trăm thắng,Doc24.vnvăn võ toàn tài. Tác phẩm của ông chỉ còn lại hai bài thơ chữ Hán: “Thuật hoài” và“Vãn Thượng tướng Quốc công Hưng Đạo Đại vương”.Bài thơ “Tỏ lòng” thể hiện niềm tự hào về chí nam nhi và khát vọng chiếncông của người anh hùng khi Tổ quốc bị xâm lăng. Nó là bức chân dung tự hoạcủa danh tướng Phạm Ngũ Lão.Hoành sóc giang san kháp kỉ thuTam quân tì hổ khí thôn ngưuNam nhi vị liễu công danh tráiTu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.Cầm ngang ngọn giáo (hoành sóc) là một tư thế chiến đấu vô cùng hiên ngangdũng mãnh. Câu thơ “Hoàng sóc giang sơn kháp kỷ thu” là một câu thơ có hìnhtượng kỳ vĩ, tráng lệ, vừa mang tầm vóc không gian (giang sơn) vừa mang kíchthước thời gian chiều dài lịch sử (kháp kỷ thu). Nó thể hiện tư thế người chiến sĩthuở “bình Nguyên” ra trận hiên ngang, hào hùng như các dũng sĩ trong huyềnthoại. Chủ nghĩa yêu nước được biểu hiện qua một vần thơ cổ kính trang nghiêm:cầm ngang ngọn giáo, xông pha trận mạc suốt mấy mùa thu để bảo vệ giang sơnyêu quý.Đội quân “Sát Thát” ra trận vô cùng đông đảo, trùng điệp (ba quân) với sứcmạnh phi thường, mạnh như hổ báo (tỳ hổ) quyết đánh tan mọi kẻ thù xâm lược.Khí thế của đội quân ấy ào ào ra trận. Không một thế lực nào, kẻ thù nào có thểngăn cản nổi. “Khí thôn Ngưu” nghĩa là khí thế, tráng chí nuốt sao Ngưu, làm át,làm lu mờ sao Ngưu trên bầu trời. Hoặc có thể hiểu ba quân thế mạnh nuốt trôitrâu. Biện pháp tu từ thậm xưng sáng tạo nên một hình tượng thơ mang tầm vóchoành tráng, vũ trụ: “Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”. Hình ảnh ẩn dụ so sánh:“Tam quân tì hổ…” trong thơ Phạm Ngũ Lão rất độc đáo, không chỉ có sức biểuhiện sâu sắc sức mạnh vô địch của đội quân “Sát Thát” đánh đâu thắng đấy mà nócòn khơi nguồn cảm hứng thơ ca; tồn tại như một điển tích, một thi liệu sáng giátrong nền văn học dân tộc:“ Thuyền bè muôn đội;Doc24.vnTinh kỳ phấp phớiTỳ hổ ba quân, giáo gươm sáng chói…” (Bạch Đằng giang phú)Người chiến sĩ “bình Nguyên” mang theo một ước mơ cháy bỏng: khao khátlập chiến công để đền ơn vua, báo nợ nước. Thời đại anh hùng mới có khát vọnganh hùng! “Phá cường địch, báo hoàng ân” (Trần Quốc Toản) “Đầu thần chưarơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo” (Trần Thủ Độ). “…Dẫu cho trăm thân này phơingoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng” (Trần QuốcTuấn)… Khát vọng ấy là biểu hiện rực rỡ những tấm lòng trung quân ái quốc củatướng sĩ, khi tầng lớp quý tộc đời Trần trong xu thế đi lên đang gánh vác sứ mệnhlịch sử trọng đại. Họ mơ ước và tự hào về những chiến tích hiển hách, về nhữngvõ công oanh liệt của mình có thể sánh ngang tầm sự nghiệp anh hùng của Vũ HầuGia Cát Lượng thời Tam Quốc. Hai câu cuối sử dụng một điển tích (Vũ Hầu) đểnói về nợ công danh của nam nhi thời loạn lạc, giặc giã:“ Công danh nam tử còn vương nợLuống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”“ Công danh” mà Phạm Ngũ Lão nói đến trong bài thơ là thứ công danh đượclàm nên bằng máu và tài thao lược, bằng tinh thần quả cảm và chiến công. Đókhông phải là thứ “công danh” tầm thường, đậm màu sắc anh hùng cá nhân. Nợcông danh như một gánh nặng mà kẻ làm trai nguyện trả, nguyện đền bằng xươngmáu và lòng dũng cảm. Không chỉ “Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”, màtướng sĩ còn học tập binh thư, rèn luyện cung tên chiến mã, sẵn sàng chiến đấu“Khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ có thểbêu được đầu Hốt Tất Liệt cửa Khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương CảoNhai,…” để Tổ quốc Đại Việt được trường tồn bền vững: “Non sông nghìn thuởvững âu vàng” (Trần Nhân Tông).“ Thuật hoài” được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Giọng thơ hùng tráng,mạnh mẽ. Ngôn ngữ thơ hàm súc, hình tượng kỳ vĩ, tráng lệ, giọng thơ hào hùng,trang nghiêm, mang phong vị anh hùng ca. Nó mãi mãi là khúc tráng ca của cácDoc24.vnanh hùng tướng sĩ đời Trần, sáng ngời “hào khí Đông-A”.Bài tham khảo 3Phạm Ngũ Lão là một danh tướng đời Trần. Tuy xuất thân từ tầng lớp bình dânsong chí lớn tài cao nên ông nhanh chóng trở thành tùy tướng số một bên cạnhHưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông -Nguyên xâm lược, Phạm Ngũ Lão cùng những tên tuổi lớn khác của triều đình đãlập nên nhiều chiến công hiển hách, góp phần quan trọng tạo nên hào khí Đông Acủa thời đại đó:Ông sáng tác không nhiều nhưng Thuật hoài là một bài thơ nổi tiếng, được lưutruyền rộng rãi vì nó bày tỏ khát vọng mãnh liệt của tuổi trẻ trong xã hội phongkiến đương thời: làm trai phải trả cho xong món nợ công danh, có nghĩa là phảithực hiện đến cùng lí tưởng trung quân, ái quốc.Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thuTam quân tì hổ khí thôn ngưuNam nhi vị liễu công danh tráiTu thính nhân gian thuyết Vũ hầuDịch thơ tiếng Việt:Múa giáo non sông trải mấy thuBa quân khí mạnh nuốt trôi trâuCông danh nam tử còn vương nợLuống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.Bài thơ được sáng tác trong bối cảnh đặc biệt có một không hai của lịch sửnước nhà. Triều đại nhà Trần (1226 14001) là một triều đại lẫy lừng với baonhiêu chiến công vinh quang, mấy lần quét sạch quân xâm lược Mông Nguyênhung tàn ra khỏi bờ cõi, giữ vững sơn hà xã tắc, nêu cao truyền thống bất khuấtcủa dân tộc Việt.Phạm Ngũ Lão sinh ra và lớn lên trong thời đại ấy nên ông sớm thấm nhuầnlòng yêu nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc và nhất là lí tưởng sống của đạoNho là trung quân, ái quốc. Ông thức rất rõ ràng về trách nhiệm công dân trướcDoc24.vnvận mệnh của đất nước: Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách.Bài thơ Thuật hoài (Tỏ lòng) được làm bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn tứtuyệt luật Đường, niêm luật chặt chẽ, tứ hàm súc, hình tượng kì vĩ, âm điệu hàohùng, sảng khoái. Hai câu thơ đầu khắc họa vẻ đẹp gân guốc, lẫm liệt, tràn đầy sứcsống của những trang nam nhi chiến binh quả cảm đang xả thân vì nước, qua đóthể hiện hào khí Đông ngút trời của quân đội nhà Trần thời ấy.Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu (Dịch nghĩa: cầm ngang ngọn giáo gìn giữnon sông đã mấy thu); dịch thơ: Múa giáo non sông trải mấy thu. So với nguyênvăn chữ Hán thì câu thơ dịch chưa lột tả được hết chất oai phong, kiêu hùng trongtư thế của người lính đang chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Hoành sóc là cầm ngangngọn giáo, luôn tư thế tấn công dũng mãnh, áp đảo quân thù. Tư thế của nhữngngười chính nghĩa lồng lộng in hình trong không gian rộng lớn là giang sơn đấtnước trong suốt, một thời gian dài (giang sơn kháp kỉ thu). Có thể nói đây là hìnhtượng chủ đạo, tượng trưng cho dân tộc Việt quật cường, không một kẻ thù nàokhuất phục được. Từ hình tượng ấy, ánh hào quang của chủ nghĩa yêu nước ngờitỏa sáng.Câu thơ thứ hai: Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu. (Dịch nghĩa: khí thế của baquân mạnh như hổ báo, át cả sao Ngưu trên trời). Dịch thơ: Ba quân hùng khí átsao Ngưu, đặc tả khí thế chiến đấu và chiến thắng không gì ngăn cản nổi của quândân ta. Tam quân tì hổ là một ẩn dụ so sánh nghệ thuật nêu bật sức mạnh vô địchcủa quân ta. Khí thôn Ngưu là cách nói thậm xưng để tạo nên một hình tượng thơkì vĩ mang tầm vũ trụ.Hai câu tứ tuyệt chỉ mười bốn chữ ngắn gọn, cô đúc nhưng đã tạc vào thờigian một bức tượng đài tuyệt đẹp về người lính quả cảm trong đạo quân Sát Thátnổi tiếng đời Trần.Là một thành viên của đạo quân anh hùng ấy, Phạm Ngũ Lão từ một chiếnbinh dày dạn đã trở thành một danh tướng khi tuổi còn rất trẻ. Trong con ngườiông luôn sôi sục khát vọng công danh của đấng nam nhi thời loạn. Mặt tích cựccủa khát vọng công danh áy chính là muốn được chiến đấu, cống hiến đời mìnhDoc24.vncho vua, cho nước. Như bao kẻ sĩ cùng thời, Phạm Ngũ Lão tôn thờ lí tưởng trungquân, ái quốc và quan niệm: Làm trai đứng trong trời đất, phải có danh gì với núisông (Chí làm trai Nguyễn Công Trứ). Bởi thế cho nên khi chưa trả hết nợ côngdanh thì tự lấy làm hổ thẹn:“ Nam nhi vị liễu công danh tráiTu thính nhân gian thuyết Vũ hầu(Công danh nam tử còn vương nợLuống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu).Vũ Hầu tức Khổng Minh, một quân sư tài ba của Lưu Bị thời Tam Quốc. Nhờmưu trí cao, Khổng Minh đã lập được công lớn, nhiều phen làm cho đôi phươngkhốn đốn; vì thế ông rất được Lưu Bị tin yêu.Lấy gương sáng trong lịch sừ cổ kim soi mình vào đó mà so sánh, phấn đấuvươn lên cho bằng người, đó là lòng tự ái, lòng tự trọng đáng quý cần phải có ởmột đấng nam nhi. Là một tùy tướng thân cận của Hưng Đạo Đại Vương TrầnQuôc Tuấn, Phạm Ngũ Lão luôn sát cánh bên cạnh chủ tướng, chấp nhận xông phanơi làn tên mũi đạn, làm gương cho ba quân tướng sĩ, dồn hết tài năng, tâm huyếtđể tìm ra cách đánh thần kì nhất nhằm quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi.Suy nghĩ của Phạm Ngũ Lão rất cụ thể và thiết thực; một ngày còn bóng quân thùlà nợ công danh của tuổi trẻ với giang sơn xã tắc vẫn còn vương, chưa trả hết. Mànhư vậy là phận sự với vua, với nước chưa tròn, khát vọng công danh chưa thỏa.Cách nghĩ, cách sống của Phạm Ngũ Lão rất tích cực, tiến bộ. ông muốn sốngxứng đáng với thời đại anh hùng.Hai câu thơ sau âm hưởng khác hẳn hai câu thơ trước. Cảm xúc hào sảng banđầu dần chuyển sang trữ tình, sâu lắng, như lời mình nói với mình cho nên âmhưởng trở nên thâm trầm, da diết.Phạm Ngũ Lão là một võ tướng tài ba nhưng lại có một trái tim nhạy cảm củamột thi nhân. Thuật hoài là bài thơ trữ tình bày tỏ được hùng tâm tráng trí và hoàibão lớn lao của tuổi trẻ đương thời. Bài thơ có tác dụng giáo dục rất sâu sắc vềnhân sinh quan và lối sống tích cực đối với thanh niên mọi thời đại Thuật hoài đãDoc24.vnlàm vinh danh vị tướng trẻ văn võ song toàn Phạm Ngũ Lão.Bài tham khảo 4Đất nước ta đã trải qua mấy nghìn thu chiến đấu và đổi mới, nay đã được bìnhyên, nhân dân ấm no, bở cõi vững vàng. Có được như thế là nhờ công lao củangười đời trước. Mà trong đó, tiêu biểu là danh tướng Phạm Ngũ Lão.”Tỏ Lòng”là một trong hai bài thơ còn lại của Phạm Ngũ Lão nêu bật khí chất Đông mạnhmẽ ấy.Trở ngược dòng thời gian về cuộc kháng chiến lần hai chống quân Nguyên lầnhai, Phạm Ngũ Lão cho ra đời bài thơ “Tỏ Lòng” với lời thơ hùng hồn của nướcViệt ta và tấm lòng quân tử nặng nợ tình.Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thuTam quân tì hổ khí thôn ngưuNam nhi vị liễu công danh tráiTu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.Bước vào thời đại chiến tranh ấy, cái thời mà lửa từ trong tim trào ra như suốinhư thác. Quyết lòng diệt tan kẻ thù xâm lăng bờ cõi, khẳng định lại một lầnnữa:”Nam quốc sơn hà Nam Đế cư”! Và khi đó, xuất hiện tư thế hiên ngan củangười anh hùng đất Việt “hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu”. Tại sao lại không cầm“dọc” ngọn giáo mà lại cầm “ngang” chứ? Bởi đó chính là tư thế hiên ngang, hùngdũng của một người anh hùng đang sẵn sàng ra trận chiến đấu. Đó chính là tư thếưỡn ngực tự hào mà rằng mình là dân đất Việt và mình sẵn sàng hy sinh để bảo vệbờ cõi Việt, bảo vệ nhân dân Việt, bảo vệ non sông gấm vóc ngàn thu này. Và cũngchính tư thế này đã lấn át cái không gian bao la rộng lớn của giang sơn. Vừa tạonên một hình tượng dũng mãnh, vừa nêu lên một khí thế bất khả chiến bại củaquân ta lúc bấy giờ. câu thơ này, tác giả đã khéo léo sử dụng ngôn từ để vẽ nênmột người chiến sĩ rừng rực khí thế Đông A!Ấy chỉ mới là một người chiến sĩ, vậy còn cả đội quân, cả tam quân thì sao?“Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”. Ta có thể hiểu ba quân khí mạnh nuốt trôi trâuhay ba quân khí mạnh lấn át cả sao Ngưu. Và chăng, khi vừa đọc lên câu thơ thì ai

