Giá trị tác phẩm Vợ chồng A Phủ
Nội dung tài liệu
Tải xuống
Link tài liệu:
Các tài liệu liên quan
Có thể bạn quan tâm
Thông tin tài liệu
Giá trị tác phẩm Vợ chồng A Phủ
Tô Hoài
Tây Bắc ơi, người là mẹ của hồn thơ
Chế Lan Viên đã thốt lên những lời thiết tha ấy trong bài thơ có tên “Tiếng hát con tàu”. Thế
nhưng miền rừng núi xa xôi ấy không chỉ là nguồn cảm hứng riêng cho những tác ph ẩm thi
ca. Từ khá lâu trước “ Tiếng hát con tàu”, mảnh đất Tây Bắc cũng đã từng sinh thành cho văn
xuôi một tác phẩm vào loại xuất sắc nhất trong số những truyện kí được viết vào thời kháng
chiến chống thực dân Pháp. Và người có côn đem lại Tây Bắc cho nền văn xuôi kháng chiến,
không thể là ai khác ngoài Tô Hoài , và tác phẩm mà chúng ta đang nói t ới cũng không th ể là
tác phẩm nào khác ngoài tập truyện mà trong đó truyện ngắn “ V ợ chồng A Ph ủ “ vẫn đ ược
coi là xuất sắc nhất, tiêu biểu nhất. Và như mọi tác phẩm ưu tú khác, “V ợ ch ồng A Ph ủ” v ẫn
mang trong đó hai trong số những giá trị vẫn được coi là vĩnh hằng của văn chương: giá tr ị
hiện thực và giá trị nhân đạo. Và góp phần nhiều nhất làm nên sức lôi cuốn c ủa “V ợ ch ồng A
Phủ “khó có gì khác hơn là sức sống tiềm tàng của nhân v ật chính- cô M ị, đ ược th ể hi ện
trong hai đêm đáng ghi nhớ nhất của đời cô- đêm tình mùa xuân và đêm mùa đông mà M ị đã
cởi trói cho A Phủ rồi cùng nhau thoát khỏi Hồng Ngài.
* Giá trị hiện thực của VCAP:
1. Có thể nói “Vợ chồng A Phủ “là thành công đầu tiên của văn xuôi cách mạng Việt Nam. Về
phương diện ấy, nhà văn đã có thể vượt qua những thành kiến cố hữu đã dai d ẳng bám l ấy
tâm trí của người miền xuôi khi nhìn vào miền núi, thành kiến v ốn đ ược nuôi d ưỡng b ằng ấn
tượng của những câu chuyện đường rừng. Nhà văn đã không để cho sự lạ lùng, khác thường
của một miền đất xa xôi ngăn trở mình đi vào bản chất của sự sống. Từ đó mà Tô Hoài đã
tiếp cận, nhận ra và biểu hiện thành công hình ảnh miền núi Tây Bắc, nơi mà cuộc s ống vẫn
diễn ra như một qui luật, tồn tại trên cơ sở những mâu thuẫn và xung đột gi ữa một bên là
những người giàu và một bên là những con người nghèo khổ. Kẻ thống trị luôn đè nén, cướp
đoạt và những người dân luôn chịu bóc lột, áp bức. Từ đó mà “ Vợ chồng A Phủ” hiện lên
như một bức tranh về cảnh sống khổ cực của những người dân dưới ách th ống tr ị c ủa phong
kiến miền núi. Và Tô Hoài đã cho thấy đó là một điều tất yếu.
Mặc khác, tác giả còn cho thấy đó là một xã hội tàn bạo bởi s ức m ạnh c ủa c ường quyền và
thần quyền. Khi đã rơi vào tay bọn thống trị, cuộc đời của con người cũng ch ỉ có th ể là kh ổ
sở, là ngựa trâu. Con người luôn luôn phải đối mặt với sự đe doạ, hành hạ của b ọn giàu sang
và luôn luôn bị ám ảnh bởi cảm giác “ma đã nhận mặt mình”.
Sự chân thực còn thể hiện ở chỗ nhà văn đã thấy trong xã hội đó, những con người nghèo khổ
đã phải nhẫn nại chịu đựng nhưng sự đè nén nặng nề, những sự cướp đoạt tàn bạo đã khiến
họ không thể chịu đựng được. Nhà văn cũng đã diễn tả những sự phản kháng của những con
người bị bóc lột, xảy ra khá thường xuyên trong tác phẩm dưới những dạng khác nhau, m ức
độ khác nhau. Về mặt này, “ Vợ chồng A Phủ” đã có thể vượt lên trên tất cả các tác phẩm văn
xuôi viết về đề tài này trước đó.
1
2. Tuy nhiên, những điều nói trên không có nghĩa là Tô Hoài đã bỏ qua những nét riêng của
những con người, những thế hệ trong tác phẩm. Những chi tiết rất phù h ợp v ề l ịch s ử, đ ịa lý,
phong tục của những người H’mông vùng Tây Bắc đã hiện lên qua ngòi bút miêu tả chân thực
của tác giả. Tô Hoài đã không sa vào những tưởng tượng dễ dãi v ề mi ền núi mà ng ược l ại,
những nét đặc sắc mà nhà văn miêu tả đã được đổi lấy bằng những lao động công phu, bằng
xâm nhập thực tế. Tác phẩm chân thực với những chi tiết mà nhà văn nói : “...đã đánh đ ổi
bằng những năm tháng lăn lộn với những con người như vợ chồng A Phủ ở những xứ sở rất
xa xôi... “ Phải công phu như vậy, chúng ta mới được thưởng thức những trang viết về mảnh
đất có những loài hoa đổi màu kì ảo. Tô Hoài cũng làm giàu có v ốn s ống ng ười đ ọc b ằng
những trang viết rất sinh động và gợi cảm về ngôn ngữ, phong tục, tính cách của những con
người miền núi: tiếng sáo trong những đêm tình mùa xuân, những câu hát trong cu ộc ném pao,
bữa rượu ngày tết, không khí ghê rợn của những buổi hút thuốc phiện, hay lối đánh đập dã
man những nguời phạt vạ, tục khấn trình ma những người vay nợ,...Chính những chi tiết ấy
đã giúp chúng ta sống rộng hơn cuộc sống mà mình đang có, gặp gỡ những người chưa hề
quen thân và nhìn lại một thời kì đã trôi qua lâu lắm r ồi, nh ững đi ều mà không th ể nào có
được nếu không phải qua những áng văn giàu tính chân thực như “ Vợ chồng A Phủ”.
3. Nhưng không nên quên rằng “ Vợ chồng A Phủ” là một tác phẩm vi ết trong th ời kì kháng
chiến, vì thế phải khác hẳn với những tác phẩm viết trước Cách Mạng và bởi nh ững nhà văn
không phải nhà văn Cách mạng. Tác giả đã thấy cuộc sống của “ V ợ ch ồng A Ph ủ” cũng có
những phát triển, diễn biến, nhưng là sự phát triển có tính chất Cách Mạng. Bởi trong những
tác phẩm như “ Tắt đèn” hay “ Chí Phèo” thì sự biến đổi vẫn nằm trong khuôn kh ổ c ố đ ịnh
của xã hội thực dân- phong kiến, còn trong “ Vợ chồng A Phủ”, Tô Hoài đã th ấy M ị và A Ph ủ
sẽ được trở thành những con người mới, từ bóng tối bước ra ánh sáng, cũng như toàn bộ
những người dân Tây Bắc sẽ được đổi đời nhờ kháng chiến và Cách Mạng và cũng sẽ được
tác giả miêu tả như một qui luật của cuộc sống. Và như thế, tất cả những chi tiết ấy đã làm
nên giá trị hiện thực sâu sắc của những áng văn “ Vợ chồng A Phủ”.
*Giá trị nhân đạo trong VCAP:
1.“ Vợ chồng A Phủ “ của Tô Hoài, bên cạnh giá trị hiện thực và có ph ần l ớn h ơn giá tr ị hi ện
thực vẫn là giá trị nhân đạo, là tình yêu thương con người mà nhà văn đã kí thác vào tác phẩm.
Biểu hiện đầu tiên và cũng là cái gốc của tấm lòng nhân đạo s ẽ đ ược tìm th ấy ở s ự quí tr ọng
mà nhà văn đã dành cho con người. Đó là những con người ở miền rừng núi rất xa xôi, nh ững
con người mà không ít khi được nhìn như là một cộng đồng dân cư thấp kém, không th ể sánh
ngang với những người văn minh, có học thức ở chốn thị thành. Tô Hoài đã v ượt qua t ất c ả
những thành kiến ấy để nhìn thấy ở Mị và A Phủ những phẩm chất không kém gì những
người con trai, con gái đẹp ở các dân tộc khác. Tô Hoài đã viết về Mị như là một ng ười có đ ủ
các phẩm chất của một người con gái, có nhan sắc được nhiều con trai ng ưỡng m ộ, m ột cô
Mị rất có tài, mà lại là tài năng âm nhạc.” Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi. Có bi ết bao nhiêu
người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị.” Có vẻ như cách nhà văn miêu tả nhân vật không
khác gì mấy so với Nguyễn Du nói đến Thuý Kiều, cũng trân trọng như thế. Tài năng âm
nhạc ấy cũng là cách để nhà văn biểu hiện Mị như một con nguời có tâm hồn đẹp đẽ, phong
phú. Mị cũng biết yêu thương và đã được yêu thương, đã có nh ững phút rung đ ộng, h ồi h ộp
2
trong đêm tình mùa xuân khi mong chờ người yêu tới. Và cũng như nhiều nhân vật khác trong
văn chương, Mị cũng có đức hi sinh. Bởi về một mặt nào đó có thể coi nh ư M ị đã bán mình
để cứu gia đình thoát khỏi cơn nguy biến. Như vậy có nghĩa là trong con mắt của Tô Hoài,
người con gái nghèo ở chốn heo hút , cheo leo trên triền núi cao cũng là một con người đẹp
đẽ, đáng sống và có đầy đủ phẩm chất để xứng đáng được hưởng hạnh phúc. Phải có một
tình cảm say mê làm gốc rễ cho tấm lòng nhân đạo, Tô Hoài hẳn mới có thể xây dựng nên
một nhân vật Mị như thế.
Chúng ta còn có thể nhìn thấy vẻ đẹp ấy không chỉ ở Mị mà còn ở nhân vật th ứ hai - chàng A
Phủ. Tô Hoài đã không tiếc công sức khi xây dựng nhân vật A Phủ như một chàng trai lý
tưởng, và đã làm hiện lên một A Phủ trong dáng vẻ đẹp đẽ mà chúng ta vẫn thường gặp ở
những chàng mồ côi trong các tác phẩm dân gian. Chàng trai ấy đẹp trong vóc dáng to
lớn,khoẻ mạnh. Anh cũng là một người lao động giỏi, thể hiện ở chi tiết “biết đúc lưỡi cày,
biết đục cuốc “, một kĩ thuật khó nhất của những người miền núi lúc ấy. A Ph ủ còn gi ỏi qua
những lời nhận xét của những cô gái trong làng : “Đứa nào được A Ph ủ cũng bằng có đ ược
con trâu tốt trong nhà, chẳng mấy lúc mà giàu”. Nhưng cũng không thể hình dung một A Ph ủ
sinh ra từ lòng yêu quí những người miền núi của nhà văn mà thi ếu đi m ột ph ẩm ch ất cao quí
của một chàng trai. Đó là lòng hào hiệp, dám phản kháng, đấu tranh và đủ sức đấu tranh, phản
kháng. Tô Hoài đã xây dựng nên một A Phủ như thế với tất cả sự yêu mến và tự hào, thể hiện
rõ nhất trong đoạn nhà văn miêu tả A Phủ đánh A Sử. “ Một người to lớn chạy vụt ra vung tay
ném con quay rất to vào mặt A Sử. Con quay gỗ ngát lăng vào giữa mặt “. Ng ười trai ấy đã
không ngần ngại “ nắm cái vòng cổ “ có tua ngũ sắc, biểu hiện của con quan th ống lý mà
“đánh tới tấp”, “ một trận đánh rất hả hê”. Và A Phủ cũng như Mị, cũng là những nhân vật mà
nhà văn mong muốn cho họ có một cuộc sống tốt đẹp như họ đáng có.
2. Chính vì thế khi Mị và A Phủ lần lượt rơi vào tay thống lý Pá Tra và ch ịu đ ựng s ự hành h ạ,
đè nén , đoạ đày thì nhà văn đã thật sự cảm thương và đã tìm mọi cách gợi s ự cùng cảm
thương trong người đọc. Tô Hoài đã nói đến cả hai nỗi khổ mà những người như Mị và A
Phủ phải chịu. Nhà văn không quên nói đến những nỗi cực về phương diện vật chất và l ại
càng không quên nói đến những nỗi khổ về phương diện tinh thần. Nhưng Tô Hoài không ch ỉ
nói đến một cô Mị lúc nào cũng phải vùi đầu vào công việc suốt đêm ngày. Nhà văn còn cho ta
thấy một người con gái hết lên nương lấy củi rồi lại xuống su ối cõng n ước, trong tay lúc nào
cũng “ gài một bó đay để tước thành sợi”, một người con gái bị sự cực khổ làm cho giá trị con
người bị hạ thấp xuống. Tấm lòng nhân đạo đã làm Tô Hoài hiểu rằng cuộc sống cực khổ
làm cho những người như Mị và A Phủ phải sống một kiếp sống thậm chí không bằng con
trâu, con ngựa.” Con ngựa , con trâu làm còn có lúc , đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng
nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày”. Chính vì th ế, ngay t ừ
vào truyện, chúng ta đã bắt gặp một cô gái có khuôn mặt “ buồn rười rượi ngồi quay s ợi”.
Nhưng không chỉ vậy, nhà văn còn khiến người đọc thấm thía hơn khi viết về một M ị “ ng ồi
bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa “. Những vật ấy vốn là nh ững v ật vô tri. Và nh ư th ế,
Mị cũng hiện lên như thể một trong số những thứ vô tri trong nhà thống lý, một con người với
kiếp sống khổ sở thậm chí còn hơn con vật. Tuy nhiên, sự thương cảm của Tô Hoài còn th ấm
thía nhiều hơn khi nhà văn nói đến nỗi khổ về phương diện tinh th ần. Chính t ấm lòng nhân
đạo ấy đã khiến Tô Hoài khi nghĩ đến cuộc sống tinh thần của những người miền núi đã tạo
3
ra những hình ảnh rất cảm động không thể nào quên. Thiếu một tấm lòng thương cảm v ề
những con người đáng sống mà không được sống, Tô Hoài hẳn đã không th ể sáng t ạo ra chi
tiết về “con rùa nuôi trong xó cửa” câm lặng, lùi lũi như s ự câm lặng c ủa m ột ng ười m ất đi
quyền sống. Hay nhà văn đã viết nên hình ảnh căn buồng của Mị đầy ám ảnh, căn buồng cách
xa cuộc đời, được miêu tả như một nhà ngục, không phải của thể xác mà là như một nhà tù
cầm cố người con gái về mặt tinh thần. “Ở cái buồng Mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa s ổ
một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là s ương
hay là nắng.” Căn buồng - nhà ngục ấy đã giam hãm tuổi xuân, làm l ạnh l ẽo, héo mòn khao
khát sống của người con gái ấy. Và có lẽ thấm thía hơn cả là hình ảnh cô M ị trong đêm mùa
đông trên núi cao ngồi thổi lửa hơ tay, một cô Mị hoàn toàn cô đơn mà bầu bạn duy nhất ch ỉ
còn là ngọn lửa. Đó còn là một cô Mị tê dại đến mức b ị A S ử đánh ngã bên b ếp l ửa cũng
không cảm thấy đau đớn gì, để hôm say lại lặng lẽ như một cái bóng, l ại đ ến h ơ tay bên
ngọn lửa. Một con người chỉ biết sống với những thói quen mà dường như chai sạn với mọi
sự đớn đau về thể xác. Cái khổ ấy nhà văn đã cho thấy là cái khổ của người không thiết sống
đến mức không thiết đến cả việc chết đi. Hay như A Phủ, cũng là một người khỏe khoắn,
mạnh mẽ, tràn đầy niềm vui sống, sự ham thích tự do, nhưng sau khi vào nhà thống lý Pá Tra
làm người ở thì lại trở thành lầm lụi. Một con người bị mất đi rất nhiều sức mạnh đến mức
mà chúng ta có thể thấy một A Phủ nhẫn nhục trong lần bị phạt vạ hay lần bị Pá Tra trói lại,
cứ cung cúc hệt như một con vật trung thành. A Phủ “lẳng lặng vác cuộn dây mây, tự tay đóng
cái cọc gỗ xuống bên cột” để cho Pá Tra trói lại. Đau xót cho con ng ười làm sao. Nh ững chi
tiết ấy cứ như xoáy vào tâm can, làm cho những người đọc có tâm không khỏi quặn lòng đau
xót.
3. Đi liền với những xót thương ấy là sự căm giận, phẫn nộ đối với những kẻ đã hành h ạ con
người, cho dù đã được nhà văn nói đến một cách kín đáo. Đọc “ V ợ ch ồng A Ph ủ”, không th ể
không thấy bộ mặt bất nhân của những kẻ thống trị. Một th ống lý Pá Tra l ợi d ụng vi ệc con
trai bị A Phủ đánh kể kiếm thêm một người ở đợ. Vì vậy Pá Tra đã chẳng thèm hỏi han xem A
Sử bị đánh ra sao mà chỉ chăm chăm xử kiện và gạt nợ A Phủ. Hay như A Sử cũng vậy, có thể
hãm hại đến chết những người trong nhà, bắt những người con dâu gạt nợ phải làm như trâu
ngựa. Chúng, tội ác ấy còn thể hiện ở sự dửng dưng, không một chút động lòng nào khi hãm
hại con người. A Sử trói Mị bình thản như trói một đồ vật nào đó, đánh ngã Mị xuống bếp lửa
như một hành động do ngứa ngáy chân tay. Rõ ràng tình người đã hoàn toàn đông c ứng trong
trái tim của kẻ thống trị vốn coi con người không bằng loài vật, nếu như b ọn chúng còn có
một trái tim. Đó hoàn toàn là một tình cảm đầy ý nghĩa nhân đạo mà Tô Hoài đã thể hiện trong
tác phẩm.
* Sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị :
Tô Hoài đã xây dựng Mị như một con người dào dạt sức s ống, khao khát s ống. Nh ưng s ự
sống ấy đã tưởng như bị dập vùi, lụi tắt, đã không còn nữa kể từ khi Mị bị bắt vào nhà th ống
lý Pá Tra để làm con dâu gạt nợ. Sau nhiều năm cô đã tr ở thành m ột “con rùa” lùi lũi n ơi xó
cửa, một người tù trong căn nhà, một con người câm lặng, một con người chính vì không thiết
sống nên dường như đã không còn thiết chết. Hình ảnh của những đêm trên núi cao g ợi ta
4
nghĩ đến một tâm hồn vô cảm. Ngọn lửa sống đã leo lét dần và dường như đang tắt h ẳn trong
tâm hồn Mị. Nhưng Tô Hoài cũng như nhiều những nhà văn nhân đạo kháccho rằng : s ức
sống của con người đẹp như Mị sẽ không bao giờ bị mất đi. Nó chỉ lặn sâu vào bên trong, ẩn
giấu vào một góc khuất tăm tối nào của tâm hồn, và như thế vẫn cứ âm th ầm t ồn t ại, âm ỉ
cháy ở bên dưới lớp tro buồn. Không thể có cách nào khác hơn là cách Tô Hoài s ử d ụng trong
tác phẩm này để nhận ra sức tiềm tàng ấy trong lòng người con gái. Nhà văn cho ta th ấy s ức
sống bình thường đang lặn sâu, giấu dưới đáy tâm hồn bằng cách chứng tỏ cho chúng ta th ấy
sức sống ấy, vẻ đẹp tâm hồn ấy trong hoàn cảnh đặc biệt nào đó sẽ lại cháy lên trong con
người Mị. Bằng cách đó, ta thấy sức sống ở Mị không mất đi mà chỉ bị che lấp đi, lẩn khuất
đi. Và niềm tin vào sức sống không mất đi ấy,mong mu ốn được biểu hiện s ự cháy lên, th ắp
sáng trở lại nguồn sức sống trong tâm hồn Mị đã đưa ta đến những trang văn đẹp nhất của
“Vợ chồng A Phủ” : đoạn văn viết về đêm tình mùa xuân Mị muốn đi chơi và đêm mùa đông
Mị cởi trói cho A Phủ. Trong những đoạn văn ấy, Tô Hoài đã làm cho ng ười đ ọc cùng tin và
cùng mến yêu cái sức sống tiềm tàng ấy của Mị thông qua ngôn từ đẹp và tinh tế. Và nh ư
thế, Tô Hoài thực sự đã nắm được phép biện chứng của tâm hồn.
Tô Hoài đã thấy trong Mị nỗi tê tái của một tâm hồn đã l ặng câm đi, v ẫn còn đâu đó m ột cô
Mị của ngày xưa. Và cô Mị trong ngày xưa ấy sẽ thức dậy trong hôm nay nếu có m ột hoàn
cảnh thích hợp. Và hoàn cảnh ấy đã đến trong đêm tình mùa xuân. Bắt đầu bằng một tác động
kì lạ của hơi rượu. “Mị cứ uống ừng ực từng bát”, như thể muốn nuốt trôi đi m ọi đau kh ổ,
cùng cực trong cuộc sống vào tận sâu trong lòng, dìm tắt hẳn đi một cái gì như thể khát khao
đang muốn vùng dậy. Hơi rượu và tiếng sáo tạo trong Mị hai trạng thái đối lập nhau.H ơi
rượu ấy vừa gây quên, vừa gợi nhớ. Quên đi hiện tại và Mị bắt đầu phảng phất nhớ v ề ngày
xưa. Trong những đêm như thế này, Mị cũng đã từng đi chơi. Đến đây, nỗi nhớ của Mị được
trợ lực bằng tiếng sáo, và Tô Hoài đã viết rất hay về tác động của tiếng sáo đối với tâm hồn
Mị. Lúc đầu tiếng sáo ấy ở xa Mị, ở ngoài Mị, của một người khác. “M ị nghe tiếng sáo v ọng
lại, thiết tha bổi hổi”. Tiếng sáo ấy cứ dần dần trở nên gần lại, nhiều tình ý h ơn, hoà nh ập
với lòng Mị nhiều hơn. Một tiếng sáo “lửng lơ bay ngoài đường” như chờ đợi. Dần dần tiếng
hát trở thành tiếng hát của chính Mị. Nỗi nhớ cứ nồng nàn dần lên nhưng s ự thay đ ổi không
dễ gì diễn ra ngay vì khi Mị đứng lên chỉ để về buồng, và ý nghĩ đến với Mị chưa phải là
cảm giác muốn đi chơi mà là cảm giác muốn ăn lá ngón tự tử ngay để chết. “Nếu có nắm lá
ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa”. Có thể Mị chưa
biết nhưng rõ ràng là Mị đã muốn sống, sống cuộc sống của ngày x ưa. “M ị ng ồi xu ống
giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng”, như một sự chủ động của tâm hồn
đang hướng về phía ánh sáng. Và ngay sau đó, tiếng sáo không còn ở bên ngoài mà hoà nhập
vào trong Mị, biến Mị trở thành một con người khác, một con người của thời còn đang đầy ắp
sức sống trong tâm hồn. “Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng b ỏ thêm vào đĩa đèn
cho sáng”. Dường như Mị đang khơi sáng lên ngọn lửa tình yêu, ngọn lửa của tâm h ồn tu ổi
trẻ vốn từ lâu đã lụi tắt. Việc lấy áo chuẩn bị đi chơi cũng là một hành đ ộng ngày x ưa trong
cô Mị ngày hôm nay. Hành động ấy giống như một người sống trong giấc mộng. Và nh ư v ậy,
sự sống được bộc lộ ra, như để chứng tỏ sự sống trước đó đã tiềm tàng trong lòng ng ười đàn
bà đau khổ. Sự nổi loạn của tâm hồn đã diễn ra không lâu vì rồi M ị s ẽ b ị A S ử trói, đ ể r ồi
dần quay trở lại với hiện tại. Sức sống lại lắng xuống, thiếp đi trong một trái tim tê tái.
Nhưng ngay cả sự chuyển biến ấy Tô Hoài cũng miêu tả cho thấy nó không đơn giản. Đầu
5
tiên Mị không nhận ra là mình bị trói mà vùng chạy theo tiếng gọi của mùa xuân. Nh ưng dây
trói đã siết chặt, “tay chân đau không cựa được”, Mị mới nhận ra là mình b ị trói. Nh ưng cái
quá trình diễn biến nhớ-quên ấy cũng đan xen lẫn lộn, lúc thấy hơi rượu toả ra trong tiếng
sáo nhưng rồi lại thấy “tiếng chân ngựa đạp vào vách”, đưa Mị trở lại làm một người con dâu
gạt nợ. Mị dường như còn tê dại hơn trước đó.
Nhưng Tô Hoài một lần nữa cứ tin rằng ngay cả trong cô Mị vô cảm ấy, s ức s ống ti ềm tàng
vẫn không thể mất đi. Sức sống ấy sẽ cháy lên, mãnh liệt hơn, tha thiết hơn và bất ngờ hơn.
Và đoạn nhà văn viết về đêm mùa đông trên núi cao ấy có thể nói là mẫu mực tuyệt v ời c ủa
sự phân tích tâm lý theo đúng tinh thần biện chứng. Người phụ nữ đã thể hiện những mâu
thuẫn nội tâm quyết liệt, những chuyển biến dồn dập, nhanh chóng, bất ngờ với không ít
người đọc những vẫn hợp lí, vì đó là diễn biến theo đúng qui lu ật c ủa phép bi ện chúng tâm
hồn. Tô Hoài đã không dễ dãi cho Mị cảm thấy thương A Phủ ngay từ phút đầu tiên. Tô Hoài
đã để cho nhân vật Mị nhìn A Phủ suốt mấy đêm mà không mảy may xúc động. Vào cái đêm
đau khổ nhất của đời A Phủ thì Mị lại sống gần như trong trạng thái vô tri. M ị ch ẳng còn tha
thiết gì ngoài việc thổi lửa, hơ tay để chống lại cái rét của đêm mùa đông trên núi cao mà
chẳng để ý đến bất kì ai. Tô Hoài đã viết một câu văn hết sức táo bạo bởi một cây bút không
đủ bản lĩnh vững vàng chắc không dám hạ xuống trang văn một câu như th ế : “N ếu A Ph ủ có
là cái xác chết đứng đấy cũng thế thôi”. Câu văn thật hay, bởi ph ải nói th ế m ới th ấu h ết s ự
lạnh lẽo, tê dại của tâm hồn Mị. Song, sau đó chính Tô Hoài đã có m ột s ự lí gi ải : đêm hôm
ấy lại có một cái gì khác so với mọi đêm hôm trước, bất ng ờ vì m ột chi ti ết nh ỏ t ưởng ch ừng
như không đáng kể. Bởi Mị đã nhìn thấy A Phủ khóc, “một dòng nước mắt lấp lánh bò xu ống
hai hõm má đã xạm đen”. Người đàn ông ấy khóc không thành tiếng, ít nước mắt thôi nh ưng
cũng đủ làm “giọt nước tràn ly” bởi giọt nước mắt ấy lay thức một sức sống bấy lâu vẫn ngủ
yên trong tâm hồn Mị. Tình thương A Phủ cũng xuất hiện ở Mị ngay lúc ấy, tình thương đi
theo một con đường thật hơn và cũng phức tạp hơn. Mị nhận ra hình ảnh của mình trong cái
đêm bị trói đứng. “Mị chợt nhớ lại đêm năm trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đ ứng th ế
kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ không biết lau đi được”. Và
chính dòng nước mắt A Phủ đã giúp Mị nhớ ra mình, xót xa cho mình. Và phải biết nhớ lại
mình, biết nhận ra là mình cũng từng, cũng đang khổ nỗi khổ của con người mới có thể thấy
có con người nào đó cũng khổ giống mình. Sự thương người không thể sinh ra khi s ự thương
mình còn chưa có. Đúng là từ lúc biết thương mình, Mị mới dần có với A Phủ tình thương đối
với một người cùng cảnh ngộ.
Từ ấy, tình thương dần dần chuyển hoá sang “người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này”,
cũng bị “bắt trói đến chết”. Tình thương ấy cứ lớn dần lên, lớn hơn cả tình thương mình. Đó
cũng là qui luật tất yếu của những tình cảm chân chính, nó s ẽ sinh ra cái hạnh phúc đ ược hi
sinh. Và như thế, chuyển ý nghĩ từ mình sang những người cùng cảnh ng ộ, M ị d ần d ần
phảng phất nghĩ : “Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta v ề trình ma nhà nó r ồi thì ch ỉ còn bi ết đ ợi
ngày rũ xương ở đây thôi”, nhưng còn “người kia việc gì phải chết thế”.Và hai tiếng “A
Phủ...” lần đầu tiên rung động phảng phất trong lòng Mị, nhè nhẹ, nghe như hơi thở của tình
thương... Song phải đến khi cho Mị nghĩ : “một lúc nào, biết đâu A Ph ủ ch ẳng đã tr ốn đ ược
rồi, lúc ấy bố con Pá Tra sẽ bảo là Mị đã cởi trói cho nó, M ị li ền ph ải trói thay vào đ ấy, M ị
6
phải chết trên cái cọc ấy” thì “làm sao Mị cũng không thấy sợ”. Phải đến lúc ấy, Tô Hoài mới
thực sự có cơ sở để Mị cầm dao cắt nút dây mây giải thoát cho A Phủ.
Nhưng Tô Hoài rất hiểu con người, thương con người, bởi ngay cả trong lúc đó mâu thuẫn
trong Mị vẫn chưa hết. Khi nỗi thương người đã được giải quyết thì n ỗi th ương mình quay
trở lại, sự sợ cho tai hoạ của mình - vốn chưa hề mất đi - như một qui lu ật t ất yếu s ẽ quay
trở lại. A Phủ chạy đi, Mị “đứng lặng trong bóng tối”như lắng nghe những nghĩ suy của chính
mình rồi đột nhiên hoảng hốt : “ở đây thì chết mất”. Song sự hoảng hốt ấy không ngờ lại có
ý nghĩa tích cực. Sự lo lắng cho mình ấy không phải là hèn yếu, mà trái lại, nó tiếp thêm s ức
mạnh cho Mị để vùng thoát, để tự thay đổi số phận của mình. Cái hoảng hốt của một s ức
sống vốn vẫn tiềm tàng đã quay trở lại, đang có nhu cầu được bảo tồn và thật sự đã được
bảo tồn.
Khác với những tác giả thời trước luôn viết về tình thương yêu con người luôn đi cùng những
xúc cảm bế tắc trong việc tìm ra lối thoát cho những kiếp ng ười đau kh ổ nh ư Chí Phèo, ch ị
Dậu. Khác với những tác giả mang lòng yêu thương con người nhưng bất l ực trước nỗi kh ổ
của họ, Tô Hoài đã đem đến cho những độc giả một ánh sáng, một niềm tin mới mẻ và vững
chắc rằng con người đau khổ có thể được giải thoát. Họ không ph ải ch ỉ có quy ền đ ược h ạnh
phúc mà hoàn toàn có thể được hạnh phúc, sung sướng nếu họ đi theo con đ ường cách m ạng.
Và như thế, “Vợ chồng A Phủ” toát lên chủ nghĩa nhân đạo nhưng lại khác biệt về chất so
với mọi cảm giác bi quan mà chúng ta thường thấy trong những tác phẩm nhân đạo bậc nhất
vào thời kì trước, bởi đó chính là chủ nghĩa nhân đạo lạc quan.
7

