BÌNH GIẢNG TRUYỆN KIỀU
Nội dung tài liệu
Tải xuống
Link tài liệu:
Các tài liệu liên quan
Có thể bạn quan tâm
Thông tin tài liệu
BÌNH GIẢNG “TRUYỆN KIỀU”
Kiệt tác Truyện Kiều được viết nên bởi một đại thi hào của dân tộc: Nguyễn Du. Nguyễn Du
sinh năm 1765 mất năm 1820 quê ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Ông sinh ra trong m ột gia
đình quý tộc mà cha và anh trai đều lần lượt làm tể tướng cho nhà Lê. Tuy nhiên, ông cũng
sớm chịu nhiều thiệt thòi: mẹ và cha mất khi ông còn nhỏ, ông ph ải ở nh ờ nhà anh trai. Sau
đó, các cuộc khỏi nghĩa nông dân bùng nổ, cuộc đời Nguyễn Du cũng ph ải n ếm nhi ều c ảnh
chìm nổi.
Truyện Kiều thuộc thể loại truyện Nôm bác học. Truyện Nôm là tác phẩm t ự s ự dài, làm
bằng văn vần tiếng Việt, ghi bằng chữ Nôm. Truyện Nôm ra đời vào thế kỉ XVI, XVII và phát
triển mạnh mẽ ở thế kỉ XVIII; đến cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX thì sáng tác ít d ần. Truyện
Nôm lúc đầu có tác phẩm viết bằng thơ Đường luật nhưng càng về sau phổ biến là viết bằng
thể thơ lục bát. Có hai loại truyện Nôm: truyện Nôm bình dân viết trên cơ s ở chuyện kể dân
gian và truyện Nôm bác học viết trên cơ sở cót truyện có sẵn của văn học Trung Quốc
(Truyện Kiều thuộc loại này); có tác phẩm xây dựng theo cốt truyện hư cấu.
Nguyễn Du viết Truyện Kiều dựa theo Kim Vân Kiều truyện, tiểu thuyết ch ương h ồi c ỡ nh ỏ
(gồm 20 hồi) của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc). Thời điểm sáng tác Truyện Ki ều tuy
chưa xác định được nhưng nhiều nhà khoa học phỏng đoán rằng, tác phẩm được sáng tác
trong quá trình dài, bắt đầu từ thời gian “mười năm gió bụi” ở Thái Bình (1789), đ ược hoàn
thiện tiếp vào thời gian về Nghi Xuân (1796) cho đến khi Nguyễn Du ra làm quan d ưới tri ều
Nguyễn (1802).
Truyện Kiều được Nguyễn Du đặt tên là Đoạn trường tân thanh, gồm 3254 câu th ơ l ục bát.
Nguyễn Du đã biến một cầu chuyện tình thành một khúc ca đau lòng th ương ng ười b ạc
mệnh, gián tiếp phản ánh những sự thực đáng buồn trong giai đoạn lịch sử cuối Lê, đầu
Nguyễn, thể hiện lòng thương cảm vô hạn đối với con người, nhất là người phụ n ữ trong xã
hội phong kiến.
Nguyễn Du đã lược bỏ các chi tiết về mưu mẹo, về sự báo oán tàn nhẫn và m ột s ố chi ti ết
dung tục trong tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân, thay đổi th ứ t ự k ể và sáng t ạo thêm m ột
số chi tiết mới để tạo ra một thế giới nhân vật sống động như thật; bi ến các s ự ki ện chính
của tác phẩm thành đối tượng để bộc lộ cảm xúc, tình cảm của nhân vật và ng ười k ể;
chuyển trọng tâm của truyện từ việc kể sự kiện sang biểu hiện nội tâm nhân v ật, làm cho các
nhân vật sống hơn, sâu sắc hơn và tác phẩm trở thành một bách khoa th ư c ủa muôn vàn tâm
trạng.
Tác phẩm mang những giá trị nội dung tư tưởng sâu sắc.
Trước hết, đó là nội dung nhân đạo. Tác phẩm là bài ca tình yêu tự do và ước mơ công lí. Chủ
đề này được thể hiện tập trung ở mối tình giữa Thuý Kiều – Kim Tr ọng và hình t ượng nhân
vật Từ Hải. Đó cũng là tiếng khóc cho sô' phận con người: khóc cho tình yêu trong trắng, chân
thành bị tan vỡ; khóc cho tình cốt nhục bị lìa tan; khóc cho nhân phẩm bị chà đạp; khóc cho
thân xác con người bị đày đoạ.
1
Truyện Kiều còn mang giá trị hiện thức: là lời tố cáo mạnh mẽ, đanh thép các thế lực đen tôl
trong xã hội phong kiến (quan tham, nhà chứa…), phanh phui sức mạnh làm tha hoá con người
của đồng tiền; bị ràng buộc bởi thế giới quan trung đại, Nguyễn Du tuy cũng lên án t ạo hoá
và số mệnh, nhưng bằng trực cảm nghệ sĩ, ông đã vạch ra đúng ai là kẻ chà đạp quyền s ống
của con người trong thực tế.
Về nghệ thuật, Truyện Kiều rất thành công trong nghệ thuật xây dựng nhân vật.
Tác phẩm thể hiện một nghệ thuật xây dựng nhân vật sống động, vừa có nét điển hình, v ừa
có nét riêng rất nổi bật, đặc biệt là tâm lí nhân vật, chỉ cần một đôi lời cô đ ọng là làm l ộ ngay
thần thái của nó về nhân vật chính diện, Nguyễn Du tả bằng bút pháp ước lệ, chọn những
hình ảnh ước lệ tiêu biểu nhất để nhân vật có được nét cá thể không nhầm lẫn với các nhân
vật ước lệ khác trong văn chương trung đại Việt Nam. Với nhân vật phản diện ông lại dùng
bút pháp tả thực để lột tả cho đầy đủ “cái xác phàm của chúng” (Nguyễn Đăng Mạnh). Có
thể nói, với mỗi nhân vật dù là phản diện hay chính diện, Nguyễn Du th ường tìm đ ược nét
thần thái của nhân vật để miêu tả, dù chỉ đôi dòng hay vài chữ mà lột t ả đ ược cả b ản ch ất
nhân vật.
Nghệ thuật kể chuyện trong Truyện Kiều cũng là một thành công đáng kể. Tác phẩm là mẫu
mực của nghệ thuật kể chuyện và trữ tành bằng thơ lục bát, với bút pháp tr ần thu ật và gi ới
thiệu nhân vật dộc đáo, bút pháp miêu tả tinh tế; nhất là nghệ thuật tr ần thu ật t ừ đi ểm nhìn
nhân vật, làm cho sự việc, cảnh vật thấm đẫm cảm xúc và thê giới tình cảm của nhân v ật
được bộc lộ một cách trực tiếp.
Nhưng Truyện Kiều được đánh giá cao hơn cả về mặt thể loại và ngôn ngữ: Tác ph ẩm là k ết
tinh tinh hoa văn học dân tộc trên phương diện ngôn ngữ và thể loại.
Ngôn ngữ Truyện Kiều rất trong sáng. Trong tác phẩm có sự kết hợp nhuần nhuyễn ngôn ngữ
bác học và ngôn ngữ bình dân. Những từ ngữ Hán Việt được sử dụng đều có chọn lọc với
mức độ vừa phải, sử dụng hợp lí và đúng chỗ, đúng lúc. Bên cạnh đó, phần nhiều là l ời ăn
tiếng nói hàng ngày của nhân dân, là ca dao, tục ngữ, thành ngữ đ ược vận d ụng một cách
nhuần nhị và khéo léo. Lời văn trong Truyện Kiều viết cách đây mấy trăm năm mà bây gi ờ
đọc vẫn có cảm giác hiện đại. Ngôn ngữ dành cho nhân vật được cá thể hóa cao độ, lời nhân
vật nào phù hợp nhân vật ấy, làm rõ thần thái nhân v ật ấy, không th ể l ẫn l ộn ngôn ng ữ c ủa
nhân vật này vái nhân vật khác dù cùng thuộc hệ thông nhân vật chính diện ho ặc phản di ện.
Qua tác phẩm, Nguyễn Du đã làm cho ngôn ngữ dân tộc được nâng lên thành ngôn ng ữ ngh ệ
thuật, đủ sức diễn tả những biến thái của cảnh sắc thiên nhiên và những biểu hiện tinh tế
trong tâm hồn con người.
Thể thơ lục bát được sử dụng hết sức điêu luyện, ưu thế của thể loại đ ược v ận d ụng m ột
cách tôi đa nên đã đủ sức diễn tả nhiều sắc thái của cuộc sống và những biểu hiện tinh t ế
trong đời sống tâm hồn con người. Nhờ tài năng và vô'n kiến thức sẵn có, Nguyễn Du đã
thành công đặc biệt trong việc xây dựng được một tiểu thuyết bằng thơ lục bát, c ả một thiên
tiểu thuyết không một câu nào gượng ép. Vì thế, tác phẩm được đông đảo nhân dân yêu thích
và sử dụng trong đời sông, làm lời hát ru, làm sách bói… Có ng ười, dù v ốn ki ến th ức h ạn ch ế
nhưng thuộc cả Truyện Kiều, thậm chí có nhiều trang còn thuộc ngược từ dưới lên…
2
Truyện Kiều là kiệt tác số một của dân tộc Việt Nam, di sản văn h ọc c ủa nhân lo ại, là m ột
“tập đại thành” của truyền thông nghệ thuật, văn hoá Việt Nam, tiêu biểu cho c ảm h ứng nhăn
dạo chủ nghĩa, vừa là niềm thương cảm sâu sắc, là tấm lòng “nghĩ tới muôn đời”, vừa là thái
độ nâng niu, vun vén cho những giá trị nhân bản cao đẹp của con người.
3

