Cộng đồng chia sẻ tri thức Lib24.vn

35 đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2020 có đáp án

d41d8cd98f00b204e9800998ecf8427e
Gửi bởi: Phạm Thọ Thái Dương 12 tháng 8 2020 lúc 10:58:09 | Được cập nhật: 13 giờ trước (11:54:35) Kiểu file: DOC | Lượt xem: 768 | Lượt Download: 12 | File size: 2.075648 Mb

Nội dung tài liệu

Tải xuống
Link tài liệu:
Tải xuống

Các tài liệu liên quan


Có thể bạn quan tâm


Thông tin tài liệu

35 đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2020 có đáp án

ĐỀ THI THỬ THPTQG NĂM 2020

(Đề thi có 02 trang)

CHUẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐỀ 01

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh: .......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

  1. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi:

... Cơ hội chỉ tồn tại ở những chỗ mà người ta kêu ca. Khi người ta kêu ca, đó chính là cơ hội của bạn.

Hãy giải quyết vấn đề và những lời than vãn đó đi, bạn sẽ nắm bắt được cơ hội.

Chúng ta nên từ những thất bại mà người khác mắc phải, không cần thiết học từ những câu chuyện thành công của họ. Rất nhiều trường MBA hiện nay tập trung vào những câu chuyện thành công. Chúng ta có nhiều lý do để thành công nhưng chỉ có một lý do thất bại. Hãy học hỏi từ lý do thất bại của người khác.

Trong 18 năm qua, cùng với đội ngũ của mình, chủng tôi thu nhập những câu chuyện thất bại của người

khác đế nghiên cứu, học hỏi và cố gắng tránh nó.

Nếu muốn làm gì đó, các bạn phải có ý tưởng và ước mơ. Ý tưởng là điều bạn có thể làm khi người khác không thể, điều bạn có thể làm tốt hơn những người khác, điều bạn có thể làm khác với số đông. Khi tất cả đều nói phải thế này, các bạn hãy nghĩ sao không phải thế kia. Khi người ta nói phải thế kia, các bạn hãy nghĩ sao không phải là thế này. Các bạn cần phải khác biệt. Nếu các bạn cũng như những người khác thì làm sao có cơ hội?

Tôi được biết ở Việt Nam có một số cuốn sách về tôi, về Alibaba. Có vẻ câu chuyện rất nổi tiếng. Tôi không đọc chúng bởi vì trong tương lai, tôi muốn tự viết một cuốn sách về Alibaba - 1.001 sai lầm.

Nếu bạn học hỏi được từ những sai lầm, bạn sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, bạn sẽ thực tế hơn. Khi nhìn thấy tất cả những thất bại, khi vẫn muốn chiến đấu cho tương lai, bạn sẽ có cơ hội.

Không ai là siêu nhân. Nếu muốn thành công, bạn phải thực tế, phải tập trung, phải làm việc theo nhóm, phải lạc quan vào tương lai. Đó là tất cả những gì tôi muốn chia sẻ với các bạn và tôi sẵn sàng trả lời mọi câu hỏi...

(Bài phát biểu của tỉ phú Jack Ma tại Hà Nội ngày 06/11/2017 - vnexpress.net)

  • MBA:là tên viết tắt của chương trình đào tạo Thạc sĩ Quản trị kinh doanh.

Câu 1: Xác định thao tác lập luận chính được sử dụng trong đoạn văn bản trên?

Câu 2: Theo anh/ chị, vì sao tác giả lại khẳng định: Cơ hội chỉ tồn tại ở những chỗ mà người ta kêu ca?

Câu 3: Phân tích tác dụng của biện pháp điệp cấu trúc cú pháp trong hai câu văn: “Khi tất cả đều nói phải thế này, các bạn hãy nghĩ sao không phải thế kia. Khi người ta nói phải thế kia, các bạn hãy nghĩ sao không phải là thế này.”

Câu 4: Hãy rút ra những bài học thiết thực nhất cho anh/ chị từ nội dung văn bản trên?

  1. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm):

Hãy trình bày suy nghĩ của anh/ chị bằng một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) về lời khuyên của tỉ phú Jack Ma: Không ai là siêu nhân. Nếu muốn thành công, bạn phải thực tế.

Câu 2 (5,0 điểm):

Viết về cảm xúc trong thơ, nhà phê bình Hoài Thanh từng cho rằng: Dòng cảm xúc quá chừng sôi nổi khiến cho câu chữ không thể đi theo những đường viền có sẵn, ý thơ xô đẩy làm cho khuôn khổ câu thơ cũng phải lung lay.

Anh/ chị hãy làm sáng tỏ nhận định trên qua đoạn thơ sau:

Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

Dẫu xuôi về phương bắc Dầu ngược về phương nam Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh một phương

(Sóng - Xuân Quỳnh, SGK Ngữ văn 12, tập 1, NXB Giáo dục, 2008, Tr.155 - 156)

-------------------- HẾT --------------------

Thí sinh không được sử dụng tài liệu! Phụ huynh, thầy cô và đồng đội vui lòng không giải thích gì thêm.

CHÚC CÁC EM LÀM BÀI TỐT!

  1. ĐỌC - HIỂU

Câu 1:

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Thao tác lập luận chính được sử dụng trong đoạn văn bản: Thao tác lập luận bình luận/ Thao tác bình luận.

Câu 2:

Có thể đưa ra nhiều cách lí giải khác nhau, song cần đảm bảo tính logic, thuyết phục. Gợi ý: Tác giả khẳng định: Cơ hội chỉ tồn tại ở những chỗ mà người ta kêu ca vì:

- Những chỗ người ta kêu ca phản ánh nhu cầu cấp thiết mà chưa được đáp ứng của con người.

  • Khi lắng nghe những nhu cầu đó, mỗi cá nhân sẽ hiểu biết hơn về xã hội. Khi nghiên cứu, tìm tòi để thỏa mãn những nhu cầu đó thì có thể tạo ra được những sản phẩm kinh doanh mang lại lợi nhuận cao. Nói cách khác là việc biết lắng nghe và thỏa mãn những lời kêu ca sẽ tạo nên cơ hội thành công.

Câu 3:

Tác dụng của biện pháp điệp cấu trúc cú pháp trong hai câu văn: “Khi tất cả đều nói phải thế này, các bạn

hãy nghĩ sao không phải thế kia. Khi người ta nói phải thế kia, các bạn hãy nghĩ sao không phải là thế này”:

  • Tạo cho câu văn sự nhịp nhàng, hài hòa.

  • Nhấn mạnh và khẳng định vai trò quan trọng của sự khác biệt giữa tư duy cá nhân và tư duy số đông. Đặc biệt nhấn mạnh tính hai mặt của một vấn đề mà để đạt được thành công con người cần nghiên cứu nghiêm túc vấn đề đó.

Câu 4:

Có thể đưa ra nhiều bài học khác nhau, cần nêu được ít nhất hai bài học:

  • Bài học về việc biết nắm bắt cơ hội, tìm kiếm thành công. Thành công chỉ đến với những người có tinh thần học hỏi, biết quan sát, lắng nghe, đặc biệt là lắng nghe, phân tích mặt trái của vấn đề (những lời kêu ca than vãn).

- Bài học về ý chí, bản lĩnh; tinh thần lạc quan: biết tin tưởng vào bản thân và con đường mà mình đã lựa chọn, biết đứng dậy từ những vấp ngã.

  • Bài học về việc phân tích, đánh giá, nhìn nhận vấn đề: không chủ quan, phiến diện, không chạy theo số đông; cần khôn ngoan, tỉnh táo để có những quyết sách đúng đắn.

  • Bài học về bí quyết thành công, đó là tính thực tế, tính tập trung, tinh thần hợp tác làm việc theo nhóm.

Những yếu tố đó sẽ hỗ trợ tối đa cho mỗi cá nhân để có thành công.

  1. LÀM VĂN

Câu 1:

Có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng cần làm rõ được suy nghĩ về cái nhìn và cách sống thực tế để có được thành công.

  • Giải thích:

+ Siêu nhân: người có năng lực phi thường.

+ Thực tế: hiện thực về đời sống vật chất và tinh thần của xã hội.

Quan niệm là một lời khuyên ý nghĩa: không ai là người phi thường, thành công chỉ đến với những người biết bám sát, biết nhìn nhận và đánh giá toàn diện hiện thực đời sống xã hội.

  • Bàn luận:

+ Cuộc sống luôn có vô vàn khó khăn, thử thách, trong khi năng lực bản thân mỗi người có hạn; bởi vậy khi

tiến hành công việc phần lớn con người đều phải đối diện với thất bại.

+ Muốn có thành công, cần có phương pháp và một phương pháp hiệu quả nhất là nhìn nhận thực tế: thực lực (khả năng), nhu cầu đời sống, phân tích thực tế xã hội, bước lên từ chính chỗ mình vấp ngã, nỗ lực vượt qua khó khăn...

+ Phê phán những cá nhân có suy nghĩ và mơ ước viển vông, hành động xa rời thực tế.

  • Liên hệ, rút ra bài học chân thành thiết thực cho bản thân (với tư cách là một công dân trẻ tuổi, sắp có bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời).

(Trong quá trình bàn luận, học sinh lấy dẫn chứng chứng minh)

Câu 2:

CHÚ Ý

Đây là dạng đề nghị luận về một ý kiến bàn về văn học. Với dạng đề này, các em cần lưu ý:

  • Mở bài cần giới thiệu được ý kiến cần bàn luận, tác phẩm hoặc đoạn trích cần phân tích.

  • Thân bài cần giải thích rõ nhận định trước khi đi vào phân tích chi tiết.

  • Kết bài: cần khái quát được giá trị, ý nghĩa của nhận định.

1. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận:

Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết bài. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân.

  1. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:

Phân tích hai khổ thơ trong bài Sóng để làm sáng tỏ cho nhận định của Hoài Thanh

  1. Triển khai vấn đề nghị luận:

Cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp dẫn chứng và lí lẽ.

    1. Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm

    2. Giải quyết vấn đề nghị luận

* Giải thích ý kiến của Hoài Thanh

CHÚ Ý

Phần giải thích cần làm rõ được các thuật ngữ: cảm xúc, ý thơ, những đường viền có sẵn, khuôn khổ câu

thơ...

  • Cảm xúc” là những rung động, là tình cảm - đây là yếu tố quan trọng nhất của thơ. Khởi nguồn của thơ là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc. “Sôi nổi” chỉ mức độ của cảm xúc: nồng nàn, cháy bỏng, mãnh liệt dâng trào. “Ý thơ” chỉ tư tưởng, tình cảm.

  • Những đường viền có sẵn”, “khuôn khổ câu thơ”: Những quy định có sẵn từ trước, những hình thức có tính chất khuôn mẫu, ổn định. “Xô đẩy”, “không đi theo”, “lung lay” đều chỉ sự bứt phá, vượt ra khỏi những quy định.

Khi cảm xúc, tình cảm trong thơ đến mức mãnh liệt nó sẽ phá vỡ những khuôn mẫu, những hình thức có tính chất ổn định. Từ đó cho thấy trong mối quan hệ giữa nội dung cảm xúc và hình thức nghệ thuật của thơ thì nội dung cảm xúc đóng vai trò chi phối.

* Chứng minh qua đoạn thơ trong bài Sóng

CHÚ Ý

Phần chứng minh cần bám sát vào 2 luận điểm chính:

  • Dòng cảm xúc quá chừng sôi nổi ở đoạn thơ này là gì?

  • Hình thức nghệ thuật có gì độc đáo, khác lạ?

  • Hai khổ thơ thể hiện dòng cảm xúc quá chừng sôi nổi, là tiếng nói tình cảm mãnh liệt của một trái tim

phụ nữ yêu chân thành, da diết.

+ Khổ thơ thứ nhất: nỗi nhớ da diết, cháy bỏng. Nỗi nhớ lúc thì được biểu hiện gián tiếp, ẩn mình trong “sóng”, lúc thì được giãi bày trực tiếp bằng nỗi nhớ của chính “em”, mỗi nét tâm trạng được nhắc lại tựa như những vòng sóng cộng hưởng, lan tỏa.

++ Trong 4 câu thơ đầu: có tới 3 lần từ “sóng” được điệp lại như điệp khúc của một bản tình ca với những giai điệu da diết, như một ám ảnh thường trực về tình yêu và nỗi nhớ, những câu thơ tựa như những đợt sóng, gối lên nhau, hối hả vươn tới bờ.

++ Nghệ thuật đối “con sóng dưới lòng sâu - Con sóng trên mặt nước” → đại dương gồm nhiều con sóng, có con sóng nổi, có con sóng chìm nhưng tất cả đều có chung một đặc điểm đó chính là nỗi nhớ bờ: “Ôi con sóng nhớ bờ - Ngày đêm không ngủ được”

Nỗi nhớ chất đầy không gian (trên mặt nước, dưới lòng sâu), đằng đẵng theo thời gian (ngày - đêm) cũng như tâm trạng nhớ nhung của những người yêu nhau khi phải cách xa: có lúc sôi nổi mãnh liệt, có lúc sâu lắng âm thầm. Xuân Quỳnh đã phát hiện thấy sóng “không ngủ được” vì “sóng mang trong mình nỗi nhớ, sóng chính là nỗi nhớ... đã là sóng thì bao giờ cũng thức, sóng không ngủ vì nếu sóng ngủ thì chính sóng cũng không tồn tại nữa” (Nguyễn Đăng Mạnh) → sóng chính là trái tim của biển cả, là nhịp đập, là sự sống của biển cả.

++ Hai câu sau của khổ thơ đầu diễn tả trực tiếp nỗi nhớ trong em: Em nhớ anh như sóng nhớ bờ. Sóng nhớ bờ trong cõi thực, giới hạn bởi ngày và đêm, còn người con gái khi yêu thì nỗi nhớ băng qua mọi giới hạn, xáo trộn cả cõi thực và cõi mơ, thống trị cả trong tiềm thức, vô thức: “Cả trong mơ còn thức” → sự phi lí trong thực tế (bởi đã thì không còn thức, đã thức thì hết rồi) nhưng lại diễn tả một chân lí trong tình yêu. Chỉ những ai biết trân trọng tình yêu, yêu chân thành và mãnh liệt mới có thể sẻ chia điều đó!

2 câu thơ giãi bày trực tiếp nỗi nhớ của “em” như một so sánh ngầm với nỗi nhớ của sóng: Biển khơi bao la có bao nhiêu con sóng thì có bấy nhiêu nỗi nhớ dù đó là sóng nổi, sóng chìm... Đại dương có nhiều con sóng, đời chỉ có 1 em, nỗi nhớ em dành cho anh bằng tất cả nỗi nhớ của những con sóng ngoài đại dương kia gộp lại.

Khổ thơ là sự phát hiện ra một thuộc tính bất biến của tình yêu: Yêu gắn liền với nỗi nhớ, một tâm hồn ngừng nhớ là dấu hiệu chắc chắn của một trái tim đã ngừng yêu.

+ Khổ thơ thứ hai: sự thủy chung son sắt trong tình yêu

++ Nhà thơ sử dụng cách nói ngược: thông thường người ta nói “xuôi nam - ngược Bắc” thì Xuân Quỳnh lại viết “xuôi về phương Bắc - ngược về phương Nam” → nhắc đến những miền không gian Bắc - Nam là gợi lên dự cảm về sự xa cách (Vừa thoáng tiếng còi tàu - Lòng đã nam đã bắc). Cách nói ngược này đã nhấn mạnh vào những nghịch lí của cuộc đời, sự cách trở gian lao trong thực tế. Lời thơ bình thản, nhẹ nhàng mà sao ta vẫn nghe thấy ở đó một nỗi thấp thỏm, một linh cảm trước cuộc đời đầy bất trắc, đổi thay vô thường!

++ Điệp từ “dẫu” được nhắc lại hai lần, lại đứng ở đầu câu cho thấy ý thức của người con gái: vẫn biết

tình yêu còn nhiều khó khăn, gian khổ nhưng “em” chấp nhận vì có thể nào đánh giá được tình yêu nếu

không đặt vào thử thách!

++ Nhà thơ đáp lại hai giả định trên (Dẫu xuôi.... Dẫu ngược) bằng một sự khẳng định “Nơi nào.... một phương”. Câu thơ vang lên như lời thề nguyện chắc nịch của tình yêu: dù ở bất cứ nơi đâu, dù trải qua muôn trùng sóng gió, trái tim em vẫn luôn hướng về anh, tình yêu em vẫn dành trọn cho anh. Nếu cuộc đời có bốn phương tám hướng thì lòng em chỉ có một phương duy nhất: phương anh. Anh chính là vầng mặt trời suốt đời soi sáng và sưởi ấm cho em.

Nếu nỗi nhớ là thuộc tính của tình yêu thì sự thủy chung lại là một phẩm chất cần có của tình yêu.

  • Hai khổ thơ còn cho thấy sự phá vỡ những hình thức, khuôn mẫu có tính chất ổn định (câu chữ không

đi theo đường viền có sẵn, khuôn khổ câu thơ bị lung lay)

CHÚ Ý

Phần chứng minh cần bám sát vào 2 luận điểm chính:

  • Dòng cảm xúc quá chừng sôi nổi ở đoạn thơ này là gì?

  • Hình thức nghệ thuật có gì độc đáo, khá lạ?

+ Âm điệu của hai khổ thơ: mang âm điệu của sóng. Sóng biển hay cũng chính là sóng lòng của người con gái đang yêu: không bình lặng mà lúc nhỏ nhẹ, dịu dàng khi lại ồn ào, mãnh liệt. Âm điệu đó được tạo nên do thể thơ (thể thơ năm chữ, gieo vần, ngắt nhịp, hài thanh linh hoạt).

+ Sự sáng tạo hình tượng thơ độc đáo: hai hình tượng sóng em cứ sóng đôi, đan cài vào nhau. Sóng mang tâm trạng của người và người mang trong mình tiếng sóng vỗ của tình yêu rạo rực.

+ Khổ thơ viết về nỗi nhớ là khổ thơ dài nhất cả bài, tính cân xứng, đều đặn giữa các đoạn thơ dường như bị phá vỡ vì đoạn thơ đã chạm đến chỗ da diết nhất, khắc khoải nhất của tình yêu → khổ thơ kéo dài ra như cách để nhà thơ đo chiều dài nỗi nhớ.

  • Đánh giá chung

- Ý kiến của nhà phê bình Hoài Thanh là ý kiến xác đáng, đúng đắn về mối quan hệ giữa nội dung và hình thức trong thơ. Tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng: Không phải cứ có cảm xúc mãnh liệt thì sẽ có sự phá cách và tạo nên cái mới trong nghệ thuật thơ ca. Việc sáng tạo nên những hình thức mới mẻ còn phải phụ thuộc vào cái tài của người nghệ sĩ. Cảm xúc chỉ là phần “xương thịt”, là yếu tố khơi nguồn và thúc đẩy. Hơn nữa, không chỉ thơ mà đối với loại hình nghệ thuật nào cũng vậy nội dung cảm xúc, tư tưởng luôn đóng vai trò chủ đạo, quyết định đối với hình thức thể hiện.

  • Hai khổ thơ của bài Sóng đã thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người con gái khi yêu: nỗi nhớ mãnh liệt cồn cào và tình yêu thủy chung son sắt. Dòng cảm xúc quá chừng mãnh liệt ấy đã được thể hiện qua hình thức đoạn thơ mộc mạc, giản dị nhưng vẫn tạo nên được sự cuốn hút lớn với người đọc.

    1. Kết thúc vấn đề nghị luận

  1. Chính tả, dùng từ, đặt câu:

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa Tiếng Việt.

  1. Sáng tạo:

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

(Đề thi có 02 trang)

ĐỀ THI THỬ THPTQG NĂM 2020

CHUẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐỀ 02

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh: .......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

  1. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi:

... Khi đứng giảng trong các lớp truyền thông cho các độ tuổi và trình độ khác nhau, một trong những câu hỏi tôi hay đưa ra là: “Bạn không lo lắng khi mọi thông tin cá nhân và những điều thầm kín đều viết, chia sẻ hoặc lưu trữ trên tài khoản cá nhân trên mạng xã hội sao?”

Tại sao tôi hay hỏi câu này? ...Bởi vì chúng ta cỏ thể bị bán đứng vì bất kì ai hay bên liên quan nào. Mọi thông tin chúng ta để trong tài khoản trên mạng xã hội giống như tài sản để trong một ngôi nhà mở toang cửa. Kể cả khi trang cá nhân của bạn không được cài ở chế độ “công khai” thì nhà cung cấp dịch vụ vẫn có thể sử dụng thông tin của bạn cho một bên thứ ba kiếm lợi. Thực tế, họ đã và đang âm thầm thu thập mọi thông tin của bạn.

Trong “Bản Tuyên bố về quyền của người dùng”, Facebook cho biết: “Bạn sở hữu tất cả nội dung và thông tin bạn đăng lên Facebook, và bạn có thể kiểm soát cách thông tin được chia sẻ thông qua các cài đặt riêng tư và ứng dụng của mình”. Nhưng hãy nhìn vụ bê bối vừa rồi: 50 triệu thông tin cá nhân từ Facebook đã được giao cho bên thứ ba sử dụng phục vụ cho cuộc tranh cử tổng thống Mỹ.

... Chúng ta hồn nhiên khi tham gia mạng xã hội và ném vào đại dương dữ liệu lớn mọi thông tin cá nhân. Ai cũng có thể tìm theo dấu tích số của chúng ta trên Internet. Nó không chỉ là những thứ thông tin được viết ra, hay bức ảnh được chủ động đăng tải: với nhu cầu gây dựng dữ liệu, các nhà cung cấp theo dõi nhất cử nhất động của bạn, từ vị trí, các thói quen đọc, những từ khóa bạn tìm kiếm, những người bạn hay tương tác... mọi cú nhấp chuột dù là vô thức đều được ghi lại và trở thành hàng hóa.

... Liệu những nút report (báo cáo) nội dung bị xâm hại cá nhân của các nhà cung cấp là đủ? Liệu khung pháp lý đã đủ để trấn an người dùng về an toàn mạng? Trước khi mọi thứ được kiểm soát thì có thế hậu quả đã xảy ra như một nữ sinh ở Nghệ An mới tự tử vì bạn trai đưa clip hôn nhau lên mạng. Diên viên, nhà văn Steven Wright từng nói: “Internet giống như miền Tây hoang dã vậy. Chẳng có luật lệ”

Vấn đề hôm nay không phải là giá cổ phiếu của Facebook sụt bao nhiêu hay Mark Zuckerberg mất mấy tỷ USD, mà là sự cẩn trọng của chính bạn khi tham gia môi trường mạng đang ra sao. Thế hệ tôi, 8x đời đầu, may thay vẫn có được một tuổi thơ không Internet. Tôi đang nghĩ về những thế hệ lớn lên trong thời đại số. Làm sao để con tôi, cháu tôi được giáo dục Internet đầy đủ, biết ý thức khai thác mặt tốt của Internet và biết tự bảo vệ mình?...

(Đời tư là hàng hóa - Phạm Hải Chung - vnexpress.net 22/03/2018).

Câu 1: Xác định phong cách ngôn ngữ chính được sử dụng trong đoạn văn bản trên?

Câu 2: Anh/chị hiểu như thế nào về nhận xét: “Internet giống như miền Tây hoang dã vậy. Chẳng có luật lệ.’?

Câu 3: Tại sao tác giả lại cho rằng “Mọi cú nhấp chuột dù là vô thức đều được ghi lại và trở thành hàng hóa”.

Câu 4: Hãy nêu ra một số biện pháp thiết thực theo quan điểm cá nhân của anh/chị để trả lời câu hỏi: “Làm sao để con tôi, cháu tôi được giáo dục Internet đầy đủ, biết ý thức khai thác mặt tốt của Internet và biết tự bảo vệ mình?”.

  1. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm):

Vấn đề mà văn bản Đọc- hiểu đặt ra gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về một trong các kỹ năng sống rất cần thiết trong xã hội hiện đại: sự cẩn trọng. Hãy trình bày suy nghĩ bằng đoạn văn ngắn khoảng 200 chữ.

Câu 2 (5,0 điểm):

Trong cuộc chiến với người lái đò, Sông Đà hiện lên:

Còn xa lắm mới đến cái thác dưới. Nhưng đã nghe thấy tiếng nước réo gần mãi lại, réo to mãi lên. Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng hàng ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng....

Nhưng khi đã qua những ghềnh thác, dòng sông lại hiện lên:

Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước sông Đà. Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông Gâm, sông Lô. Mùa thu, nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về...

(Trích Người lái đò sông Đà - Nguyễn Tuân - SGK Ngữ văn 12, trang 152)

Cảm nhận về vẻ đẹp của Sông Đà qua hai đoạn văn trên, từ đó thấy được những đặc sắc về giá trị nghệ thuật của tác phẩm.

-------------------- HẾT --------------------

Thí sinh không được sử dụng tài liệu! Phụ huynh, thầy cô và đồng đội vui lòng không giải thích gì thêm.

!xin cảm ơn!

CHÚC CÁC EM LÀM BÀI TỐT!

  1. ĐỌC - HIỂU

Câu 1:

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Phong cách ngôn ngữ chính: Phong cách ngôn ngữ chính luận/ Phong cách chính luận/ chính luận.

Câu 2:

  • Khẳng định môi trường Internet hiện nay phát triển tự nhiên, mạnh mẽ và quá khốc liệt.

  • Khẳng định đây là môi trường thiếu sự an toàn, thiếu sự kiểm soát bằng các quy định chặt chẽ; (hoặc: Cảnh báo việc tham gia vào Internet cần có sự đề phòng cần thiết vì đây là một môi trường thiếu sự kiểm soát bằng các quy định chặt chẽ).

Câu 3:

Khẳng định: Mọi cú nhấp chuột dù là vô thức đều được ghi lại và trở thành hàng hóa vì:

  • Trên Internet tính bảo mật và riêng tư đều không thực sự được coi trọng. Mọi thông tin, mọi lựa chọn cá nhân, mọi hành vi của người sử dụng dễ dàng bị theo dõi, để lại dấu tích.

  • Những thông tin, lựa chọn cá nhân tạo thành kho dữ liệu khổng lồ, có giá trị.

  • Thông tin cá nhân đôi khi trở thành hàng hóa được mua bán giữa các nhà cung cấp dịch vụ mạng nhằm phục vụ cho những mục đích nhất định và mang lại lợi ích cho nhà cung cấp mà không đem đến bất cứ ích lợi nào cho người dùng.

Câu 4:

  • Cần được cung cấp kiến thức hiểu biết về Internet, để có đủ kỹ năng khi sử dụng Internet:

+ Cần chú ý đến tính bảo mật, đọc kĩ và thực hiện theo các điều khoản bảo mật;

+ Có ý thức cao, bản lĩnh khi sử dụng Internet; tránh các việc: bị lôi kéo vào các dịch vụ phát sinh; các nhóm, các hội không minh bạch; liên kết với các đường dẫn kết nối lạ.

  • Có kỹ năng khai thác, sử dụng đúng mục đích, đúng giá trị kho dữ liệu khổng lồ của Internet.

  • Có ý thức tăng cường giao lưu, học hỏi trong cuộc sống thực, tránh lãng phí thời gian trên mạng xã hội khi không cần thiết, tránh tình trạng “sống ảo”.

  • cần có ý thức đấu tranh cho bản thân và cộng đồng trước hiện tượng thông tin cá nhân bị xâm phạm và lợi dụng.

  1. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm):

  • Giải thích: Sự cẩn trọng là thái độ thận trọng trong lời nói và hành động, tránh sơ xuất để xảy ra những điều bất lợi.

  • Bàn luận:

+ Vai trò, ý nghĩa của sự cẩn trọng trong xã hội hiện đại:

++ Xã hội hiện đại càng phát triển, đặc biệt là sự phát triển của thế giới ảo nảy sinh nhiều vần đề phức

tạp.

++ Trước mỗi hành động, việc làm, sự cẩn trọng sẽ giúp chúng ta có những quyết định đúng đắn hiệu

quả. Ngược lại, nếu không cẩn trọng, chúng ta dễ mắc sai lầm.

+ Sự cẩn trọng không dễ dàng có được, đó là một kĩ năng sống đòi hỏi sự rèn luyện và nỗ lực của mỗi người.

+ Phê phán lối sống cẩu thả, tùy tiện; phân biệt cẩn trọng với sự cẩn thận thái

  • Liên hệ, rút ra bài học thiết thực cho bản thân.

Câu 2 (5,0 điểm):

  1. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận

Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết bài. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân.

  1. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Vẻ đẹp vừa dữ dội vừa thơ mộng trữ tình của Sông Đà qua hai đoạn văn, qua đó khái quát về phong cách nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Tuân.

  2. Triển khai vấn đề nghị luận:

Cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp dẫn chứng và lí lẽ.

    1. Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm:

Cuộc đời Nguyễn Tuân, có người nói, là một định nghĩa về người nghệ sĩ. Với phong cách tự do, phóng túng và ý thức sâu sắc về cái tôi cá nhân, Nguyễn Tuân đã tìm đến thể tuỳ bút như một tất yếu.

Người lái đò Sông Đà” là một tuỳ bút đặc sắc của Nguyễn Tuân in trong tập “Sông Đà” xuất bản năm 1960. Trong tác phẩm này, Nguyễn Tuân không chỉ ca ngợi con người Tây Bắc mà còn phát hiện vẻ đẹp độc đáo của con sông Đà - vừa hung dữ, hiểm trở, lại vừa thơ mộng, trữ tình, vẻ đẹp ấy được tái hiện rất sống động qua hai đoạn văn.

    1. Cảm nhận về vẻ đẹp của Sông Đà qua hai đoạn văn:

  • Khái quát về hình tượng Sông Đà trong đoạn trích “Người lái đò Sông Đà”: vẻ đẹp hung bạo mà trữ

tình.

Trải suốt từ trang đầu đến trang cuối tác phẩm là hình ảnh dòng sông Đà được chụp lại ở nhiều chiều, nhiều góc độ khác nhau. Mở đầu bài tuỳ bút, Nguyễn Tuân đã có hai câu đề từ giới thiệu tính chất độc đáo của dòng sông Đà “Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông” và “Chúng thuỷ giai đông tẩu/ Đà giang độc bắc lưu”. Lời đề từ thứ nhất gợi ra vẻ đẹp kiều diễm, thơ mộng của dòng sông. Câu thứ hai nhấn vào tính chất đặc biệt của sông Đà, mọi con sông đều chảy theo hướng đông, riêng mình sông Đà chảy theo hướng bắc. Đó như là một sự cưỡng lại tự nhiên để khẳng định cá tính của dòng sông. Và điều này đã khiến con sông trở nên dữ tợn với nhiều vực xoáy, luồng chết, đá ghềnh, sóng thác. Hung bạo mà trữ tình, những nét đẹp ấy đã cuốn hút tâm hồn người nghệ sĩ, để nhà văn làm sống dậy trên trang văn một dòng sông độc đáo, lạ thường không kém gì dòng sông của tự nhiên.

  • Cảm nhận vẻ đẹp Sông Đà trong đoạn 1 :

+ Nội dung: Đoạn văn miêu tả âm thanh nước thác, qua đó làm hiện lên vẻ đẹp hùng vĩ dữ dội của sông

Đà.

+ Nghệ thuật: chú ý bám sát và phân tích các yếu tố nghệ thuật (câu văn ngắn, nhịp nhanh; nghệ thuật

nhân hóa cùng các từ réo gần, réo to, gằn, chế nhạo, khiêu khích, van xin, oán trách ... khiến nước thác vừa như một sinh thể có linh hồn sống động, tâm trạng phong phú, tính cách dữ dội vừa như một bản hùng ca tráng liệt của đại ngàn)

  • Cảm nhận vẻ đẹp Sông Đà trong đoạn 2:

+ Nội dung: Đoạn văn miêu tả dáng sông và màu nước sông Đà, qua đó tô đậm vẻ đẹp thơ mộng của con sông Tây Bắc.

+ Nghệ thuật: chú ý làm rõ hiệu quả thẩm mỹ của các yếu tố nghệ thuật (câu văn dài, nhịp văn chậm rãi, thong thả; ngôn ngữ và hình ảnh gợi cảm tuôn dài tuôn dài, áng tóc trữ tình, xanh ngọc bích, lừ lừ chín đỏ; nghệ thuật nhân hóa làm nổi bật vẻ đẹp mềm mại trữ tình thơ mộng và gợi cảm của dòng sông)

    1. So sánh vẻ đẹp của Sông Đà qua hai đoạn văn:

  • Điểm giống:

+ Trong nội dung: hai đoạn văn đều nói đến vẻ đẹp sông Đà, đặc biệt là nước sông Đà, qua đó, làm hiện lên cái tôi độc đáo của Nguyễn Tuân (ngôn từ phong phú; khả năng tổ chức câu văn xuôi giàu giá trị tạo hình; trí tưởng tượng mãnh liệt; tiếp cận đối tượng ở phương diện văn hóa thẩm mỹ; không ưa những gì bằng phẳng, nhợt nhạt...)

+ Trong nghệ thuật: ngôn ngữ giàu có; nghệ thuật nhân hóa

  • Điểm khác:

+ Nội dung: cùng tả nước sông Đà nhưng đoạn 1 tả âm thanh, đoạn 2 tả màu nước nên đoạn 1 như một bản nhạc, đoạn 2 như một bức họa; đoạn 1 tô đậm vẻ đẹp hùng vĩ dữ dội; đoạn 2 tô đậm vẻ đẹp thơ mộng trữ tình

+ Nghệ thuật: câu văn (đoạn 1 câu ngắn, nhịp nhanh; đoạn 2 câu dài, nhịp chậm); ngôn ngữ (đoạn 1 thiên về góc cạnh, nhiều động từ; đoạn 2 thiên về cái đẹp mềm mại, gợi hơn tả); về giọng điệu (đoạn 1 giọng mạnh mẽ; đoạn 2 giọng tha thiết nhẹ nhàng)

    1. Giá trị nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm được thể hiện qua hai đoạn văn:

Nguyễn Tuân có một vốn tri thức phong phú, nhiều mặt về lịch sử, địa lí, quân sự, điện ảnh. Qua việc miêu tả Sông Đà trong tác phẩm nói chung và trong đoạn trích nói riêng, ông đã cung cấp hiểu biết mọi mặt về dòng sông này, mang lại cho người đọc những kiến thức lí thú.

Nguyễn Tuân cũng đã vận dụng mặt mạnh của nhiều ngành khoa học khác để làm tăng khả năng biểu hiện của văn chương, Miêu tả sông Đà có lúc ông giống như một nhà quay phim lão luyện, hết lùi lại để bao quát toàn cảnh sông Đà, có lúc lại quay cận cảnh một con thác hung dữ. Khi miêu tả cảnh sắc hai bên bờ sông và dòng nước sông Đà, Nguyễn Tuân lại sử dụng các gam màu rất táo bạo, tài tình như một hoạ sĩ tài năng: màu xanh ngọc bích của mùa xuân, lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa vào mùa thu. Cách miêu tả sông Đà từ phương diện văn hoá, mĩ thuật của Nguyễn Tuân đã tạo nên những trang văn thực sự độc đáo. Miêu tả con sông Đà, Nguyễn Tuân huy động một vốn từ ngữ phong phú, đa dạng. Miêu tả cuộc quyết đấu của người lái đò với con Sông Đà, Nguyễn Tuân sử dụng những từ ngữ quân sự, võ thuật với những câu văn ngắn. Khi miêu tả vẻ đẹp trữ tình, câu văn của ông kéo dài, mang đậm chất trầm tư, mơ mộng. Ông thực sự xứng đáng là “người nghệ sĩ của ngôn từ”./.

    1. Kết thúc vấn đề nghị luận

  1. Chính tả, dùng từ, đặt câu:

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa Tiếng Việt.

  1. Sáng tạo:

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

Số trang

(Đề thi có 02 trang)

ĐỀ THI THỬ THPTQG NĂM 2020

CHUẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐỀ 03

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh: .......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

  1. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

    1. Người ta gọi ông là “Hiệp khùng”. Ông có một chuỗi phòng trọ ở cổng viện Nhi TW - và chỉ thu

15.000 đồng/người/ngày. Nhà trọ của ông Hiệp dành cho những gia đình bệnh nhi khó khăn, những đồng bào dân tộc hay người từ quê lên phải điều trị dài ngày. Nếu có ai khó khăn quá, ông sẽ miễn luôn cả tiền trọ, rồi tự đi chạy vạy quyên góp để giúp đỡ các cháu điều trị. Mà ông Hiệp vẫn tự hào, rằng dù chỉ thu

15.000 đồng, nhưng nhà trọ của ông không thiếu thứ gì, có quạt điện, wifi, nước lạnh, bếp đun... người ở chỉ

còn phải mua mỗi xà phòng.

    1. ...Có một điểm đặc biệt ở ông Hiệp: người chủ nhà trọ thừa nhận rằng mình đang kinh doanh. Còn chỉnh những người ở trọ nghèo khó cũng nói về ông như một nhà từ thiện. Nhưng không, ông có một bài toán kinh doanh rất rạch ròi.

    2. Ông vừa dùng nhà mình, vừa đi thuê nhà khác làm phòng trọ, mướn người làm, một tháng hết 80 triệu. Nhưng ông tính, nếu lúc nào phòng cũng kín, thì một tháng ông thu về hơn 80 triệu một chút...Dư ra một chút để ông Hiệp tự sống trong căn phòng 6 mét vuông ông dành lại cho bản thân...Đó là một bài toán kinh doanh rất thực tế. Nó chỉ khác những bài toán kinh doanh phổ biến khác, ở một điểm, là chủ doanh nghiệp không đặt lợi nhuận lên trước. Ông đặt lợi ích của “khách hàng” - tức là những bệnh nhi có hoàn cảnh khó khăn - lên đầu. Ông gần như không lấy lãi.

    3. Mười lăm nghìn đồng ấy, nằm chênh vênh giữa ranh giới của một cuộc kinh doanh và một sự giúp đỡ. Mười lăm nghìn đồng ấy, nằm giữa đường biên của một thương nhân lão luyện và một nhà hoạt động xã hội.

    4. Tôi không nói với ông, nhưng cái ông đang làm, là một mô hình doanh nghiệp xã hội mẫu mực. Đó là một mô hình phổ biến ở nhiều quốc gia phát triển, nhưng vẫn còn rất hiếm ở nước ta: những cuộc từ thiện thường chỉ trông vào nguồn tài trợ mà không thể tự nuôi sống được mình lâu dài; còn những cuộc kinh doanh, thì hay rơi vào cảnh cực đoan chạy theo lợi nhuận.

    5. Trong sự nghiệp của mình, chúng ta sẽ rất nhiều lần gặp một “điểm cân bằng” như 15 nghìn đồng của ông Hiệp. Đó là lúc ta sẽ lựa chọn giữa lợi ích tuyệt đối của bản thân, và việc san sẻ lợi ích với cộng đồng.

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của văn bản là gì?

Đức Hoàng (vnexpress.net 03/05/2017)

Câu 2: Dựa vào văn bản, hãy giải thích thế nào là “doanh nghiệp xã hội”?

Câu 3: Theo anh/ chị, vì sao nhân vật chính được nói đến trong đoạn văn bản lại có biệt danh là “Hiệp

khùng”?

Câu 4: Thông điệp mà tác giả muốn đưa ra khi nói tới số tiền mười lăm nghìn đồng trong đoạn văn (4) là gì?

  1. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm):

Hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) thể hiện suy nghĩ của anh/chị về việc “lựa chọn giữa lợi

ích tuyệt đối của bản thân và san sẻ lợi ích với cộng đồng”.

Câu 2 (5,0 điểm):

Cảm nhận về hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua hai bài thơ “Tự tình II” (Hồ Xuân Hương) và “Thương vợ” (Tú Xương) (SGK Ngữ văn 11, tập Một). Vẻ đẹp xưa của người phụ nữ đã được tiếp nối ở nhân vật người đàn bà hàng chài trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” như thế nào?

-------------------- HẾT --------------------

Thí sinh không được sử dụng tài liệu! Phụ huynh, thầy cô và đồng đội vui lòng không giải thích gì thêm.

!xin cảm ơn!

CHÚC CÁC EM LÀM BÀI TỐT!

  1. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

!

Trong câu hỏi 2 và câu hỏi 3, đối với dạng yêu cẦu giải thích cho một khái niệm, một biệt danh, một cách

gọi, các em cần chú ý:

  • Khai thác thông tin từ văn bản: chú ý các câu văn xuất hiện trước và sau câu văn có xuất hiện khái niệm.

  • Kết hợp với hiểu biết của bản thân để lấy ra những thông tin hữu ích, tránh lan man. Ví dụ chữ “khùng” trong biệt danh “Hiệp khùng” thường để chỉ những con người khác thường, thậm chí là điên rồ, làm những việc không giống với số đông.

Câu 1 (0,5 điểm):

Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận/ Phương thức nghị luận.

Câu 2 (0,5 điểm):

Học sinh căn cứ vào nội dung văn bản và hiểu biết của bản thân để đưa ra định nghĩa phù hợp.

Gợi ý: Doanh nghiệp xã hội là mô hình kinh doanh không đặt lợi nhuận lên trước mà đặt lợi ích của

khách hàng lên hàng đầu.

Câu 3 (1,0 điểm):

Học sinh cần đưa ra lí lẽ và dẫn chứng để giải thích một cách hợp lí, chặt chẽ. Gợi ý:

Ông có nhiều suy nghĩ, hành động khác thường, không giống với số đông như: cho thuê phòng với mức giá quá rẻ, không chạy theo lợi nhuận như nhiều người khác; chỉ sống trong một phòng 6 mét vuông trong khi có rất nhiều phòng để cho thuê; miễn tiền trọ cho nhiều người nghèo...

Câu 4 (1,0 điểm):

Học sinh có thể đưa ra thông điệp theo quan điểm của bản thân, đảm bảo tính hợp lí, thuyết phục. Gợi ý:

    • Những điều nhỏ bé, giản dị đôi khi lại có ý nghĩa rất lớn lao, có thể giúp đỡ cho nhiều người trong

những hoàn cảnh khó khăn, khốn cùng nhất.

    • Ranh giới giữa tốt và xấu, lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng có lúc rất mong manh, mỗi người đều cần có ý thức về ranh giới đó.

    • Mỗi người cần có những hành động thiết thực để giúp đỡ cộng đồng dù là nhỏ bé. Nhiều hành động, nhiều người cùng chung tay sẽ mang lại những lợi ích vô cùng lớn lao.

  1. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm):

!

Đối với dạng đề nghị luận xã hội: xuất hiện hai vấn đề cần bàn luận được đặt trong mối quan hệ với nhau (ở đây là: lựa chọn lợi ích tuyệt đối của bản thân và san sẻ lợi ích với cộng đồng), các em cần chú ý:

  • Thể hiện suy nghĩ về từng vấn đề, thường đánh giá cả mặt tích cực và tiêu cực của vấn đề.

  • Bài học rút ra cho bản thân thường là lối sống, cách sống, quan niệm sống kết hợp của cả hai vấn đề trên.

  1. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn (0,25 điểm):

Có thể trình bày đoạn văn theo nhiều cách: diễn dịch, quy nạp, móc xích, song hành...

  1. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm):

Vấn đề lựa chọn cách sống phù hợp cho bản thân

  1. Triển khai vấn đề nghị luận (1,0 điểm):

Có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng cần

làm rõ được suy nghĩ về việc lựa chọn cách sống vì cá nhân hay vì cộng đồng. Có thể theo hướng sau:

    • Đảm bảo lợi ích của bản thân có ý nghĩa quan trọng để mỗi cá nhân có cuộc sống tốt đẹp, có điều kiện

phát triển. Mỗi cá nhân cần quan tâm, cần rèn giũa trước hết chính là bản thân mình.

    • San sẻ lợi ích với cộng đồng là ý thức, là trách nhiệm của mọi người, bởi vì không ai tồn tại một cách độc lập, riêng rẽ. Cộng đồng phát triển sẽ tạo điều kiện cho cá nhân phát triển, (dẫn chứng từ các hoạt động từ thiện, hoạt động ủng hộ, quyên góp giúp đỡ cộng đồng...)

    • Cần có sự cân bằng, hài hoà giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng tuỳ vào điều kiện, hoàn cảnh cụ

thể.

  • Liên hệ thực tế, rút ra bài học chân thành, thiết thực cho bản thân: là một người trẻ tuổi đã rèn luyện cá

nhân như thế nào; đã giúp đỡ cộng đồng bằng những hành động gì...

  1. Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,25 điểm):

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa Tiếng Việt.

  1. Sáng tạo (0,25 điểm):

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

!

Một số dẫn chứng về các hoạt động từ thiện, hoạt động cộng đồng:

    • Anh Nguyễn Quang Thạch đã dành tâm huyết 20 năm thực hiện chương trình “Sách hóa nông thôn”, mang

tủ sách miễn phí đến nhiều vùng quê.

    • Chương trình “Trái tim cho em” với sự tham gia quyên góp của hàng vạn người đã mang lại cơ hội mổ tim

miễn phí cho hơn 3500 em nhỏ.

    • Chương trình “Cặp lá yêu thương” đã nhận được sự sẻ chia của hơn 2000 “lá lành” đến với những mảnh đời bất hạnh, cho các em cơ hội được đến trường....

Câu 2 (5,0 điểm):

!

Đối với dạng đề nghị luận văn học có yêu cầu: cảm nhận/ phân tích một vấn đề chung xuất hiện trong hai tác

phẩm, các em cần chú ý:

    • Phân tích/cảm nhận vấn đề chung trong từng tác phẩm ở mức độ vừa phải, đúng trọng tâm, tránh lan man,

dễ dẫn đến tình trạng không hoàn thành bài làm.

    • Cần có phần so sánh vấn đề chung trong hai tác phẩm để tìm ra điểm giống nhau và khác nhau, tăng tính

thuyết phục và tính sáng tạo cho bài làm.

  1. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận (0,25 điểm):

Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết bài. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân.

  1. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm):

Cảm nhận về hình tượng người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua hai bài thơ: Tự tình II của Hồ Xuân Hương

Thương vợ của Tú Xương; sự tiếp nối vẻ đẹp xưa ở nhân vật người đàn bà hàng chài.

  1. Triển khai vấn đề nghị luận:

Cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp dẫn chứng và lí lẽ.

    1. Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm (0,5 điểm):

Hồ Xuân Hương đuợc mệnh danh là bà Chúa thơ Nôm. Thơ của Hồ Xuân Hương vừa trào phúng, vừa trữ tình, vừa thanh, vừa tục, là tiếng nói tâm hồn của người phụ nữ tài sắc mà bạc mệnh, khát khao đòi quyền sống, tự do, bình đẳng, quyền hưởng tình yêu và hạnh phúc. “Tự tình II” là một trong ba bài thơ thuộc chùm thơ “Tự tình” thể hiện nỗi đau đớn, buồn tủi về duyên phận và khát khao hạnh phúc mãnh liệt của Hồ Xuân Hương.

Tú Xương là nhà thơ của thành Nam, là nhà thơ trào phúng – trữ tình lớn của nước ta cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. “Thương vợ” là một trong những bài thơ hay nhất mà Tú Xương viết về vợ của mình ngay khi bà còn sống.

    1. Cảm nhận về hình ảnh người phụ nữ thời xưa qua hai bài thơ (2 điểm)

CHÚ Ý

    • Hình ảnh người phụ nữ trong bài thơ Tự tình: cô đơn, đau khổ, bẽ bàng duyên phận, khát khao hạnh phúc mãnh liệt

    • Hình ảnh người phụ nữ trong bài thơ Thương vợ: vất vả, cay đắng, đảm đang, chung thủy, hết lòng hi sinh vì gia đình.

    • Sự tiếp nối ở nhân vật người đàn bà hàng chài: người phụ nữ của xã hội hiện đại; giàu lòng vị tha, đức hi sinh, giàu tình yêu thương; tần tảo, lam lũ.

Có thể cảm nhận theo nhiều cách nhưng về cơ bản, cần đáp ứng những nội dung sau:

    • Hình ảnh người phụ nữ trong bài thơ “Tự tình” - Hồ Xuân Hương:

+ Khái quát về bài thơ:

Thơ của Hồ Xuân Hương là những lời than thân từ nỗi niềm riêng của một cá thể, chất chứa những vấn đề mang tầm phổ quát của thân phận người phụ nữ. Hay nói cách khác, bằng việc viết lên tiếng nói cá nhân, Hồ Xuân Hương làm sống lên hình ảnh người phụ nữ Việt Nam xưa. Bài thơ Tự tình II là những nỗi niềm thầm kín, riêng tư của tác giả thể hiện nỗi thương mình trong cô đơn, lẽ mọn, khao khát hạnh phúc tuổi xuân, đó cũng là nỗi thương người, sự sẻ chia với bao người phụ nữ khác cùng cảnh ngộ.

+ Bài thơ đã khắc họa hình ảnh một người phụ nữ với tâm trạng đầy âu lo, trăn trở, với nỗi xót xa trong

cảnh cô đơn lẻ loi.

Người phụ nữ đối diện với thời gian đêm khuya, không gian vắng lặng, chỉ có tiếng trống canh. Không – thời gian gợi tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình. Thời gian đêm khuya cũng là thời gian tâm trạng. Nữ sĩ cảm nhận sự cô đơn trước thời gian. Nhà thơ nghe “văng vẳng trống canh dồn”, đó không chỉ đơn thuần là cảm nhận âm thanh mà còn là nghe thời gian trôi. Cái nhịp gấp gáp, liên hồi của tiếng trống vừa là sự cảm nhận vừa là sự thể hiện bước đi dồn dập của thời gian và sự rối bời của tâm trạng. Trước không gian, thời gian đó, người phụ nữ càng thấy được sự tủi hổ, bẽ bàng của duyên phận, lại càng thêm đau xót. Ngậm ngùi mang số phận hồng nhan ra để mà đay đả, cụm từ “cái hồng nhan” hàm nghĩa mỉa mai, chua chát. Tìm lãng quên trong men rượu nhưng "say lại tỉnh", tỉnh ra còn đớn đau hơn. Tìm vầng trăng bầu bạn thì chỉ thấy

"bóng xế", "khuyết, chưa tròn" xoáy thêm vào sự lỡ dở, dang dở. Cuối cùng, còn lại chỉ là một nỗi niềm ngao ngán, đắng chát khi tuổi xuân đang âm thầm trôi qua "xuân đi" mà duyên phận vẫn bị "san sẻ", không bao giờ có được hạnh phúc. Số phận tủi nhục, cay đắng của người phụ nữ trong bài thơ cũng là số phận chung của biết bao người phụ nữ phải chịu cảnh lẽ mọn trong xã hội phong kiến.

+ Bài thơ cũng cho thấy bản lĩnh và ý chí Hồ Xuân Hương, cũng như khát vọng hạnh phúc mãnh liệt

không bao giờ nguôi ngoai:

Thái độ bứt phá, vùng vẫy của Hồ Xuân Hương được thể hiện qua hình ảnh thiên nhiên, bằng những cụm từ gây ấn tượng mạnh mẽ: xiên ngang, đâm toạc. Thiên nhiên như mang niềm phẫn uất của con người. Các động từ mạnh đi liền với bổ ngữ: xiên - ngang, đâm – toạc nhấn mạnh sự bướng bỉnh, ngang ngạnh, sự phản kháng, đồng thời là dấu ấn cá tính mạnh mẽ táo bạo của nữ sĩ. Bức tranh thiên nhiên ở đây luôn tràn trề nhựa sống, nó uyển chuyển linh hoạt và tươi thắm sắc màu. Thiên nhiên trở thành phương tiện chuyển tải tư tưởng đòi tự do, hạnh phúc cho con người.

+ Đánh giá chung: Bài thơ đã cho thấy số phận bất hạnh, cay đắng của người phụ nữ trong cảnh lẽ mọn, tình cảm bị san sẻ trong xã hội phong kiến xưa; đồng thời khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ luôn bền bỉ, kiên cường, bản lĩnh và luôn mãnh liệt khát vọng hạnh phúc.

    • Hình ảnh người phụ nữ trong bài thơ "Thương vợ"

    • Tú Xương.

+ Khái quát bài thơ:

Thương vợ” là bài thơ thế sự, cũng là bài thơ tâm sự, thấm đượm nghĩa yêu thương. Bài thơ từ tấm lòng tri ân với vợ của Tú Xương đã khắc hoạ chân dung tảo tần, hết mực vì chồng con của bà Tú.

+ Bài thơ đã thể hiện hình ảnh người phụ nữ - người vợ với gánh nặng gia đình, với bao vất vả, lo toan

của công việc bộn bề:

Câu thơ đầu tiên đã bao quát được hai chiều không gian, thời gian cùng công việc khó khăn, nguy hiểm không một phút nghỉ ngơi của bà Tú. “Khi quãng vắng, buổi đò đông”, những eo sèo bán buôn nhọc nhằn, bà đều phải bươn chải, vượt qua để lo cho gia đình. Chữ “duyên” có một mà chữ “nợ” đến hai nên cả cuộc đời của bà là sự vất vả, cơ cực, “năm nắng mười mưa”. Đó cũng là nỗi vất vả, là gánh nặng của biết bao người phụ nữ khác trong xã hội Việt Nam xưa.

+ Bài thơ cũng tô đậm chân dung của một người phụ nữ đảm đang, chung thủy, giàu tình yêu thương, hết

lòng vì chồng con.

Bà Tú là người rất mực chăm lo cho gia đình, lo toan chu toàn mọi việc “Nuôi đủ năm con với một chồng”. Nhà thơ đã sử dụng hình ảnh con cò trong ca dao nhưng sáng tạo ở hàm ý thân phận “thân cò” để nói về người vợ suốt đời chăm chỉ, cặm cụi, chỉ lo cho chồng con mà không nghĩ đến mình. Đó còn là người vợ luôn vượt lên hoàn cảnh, không lời phàn nàn trách móc, oán hận mà giàu lòng vị tha và đức hi sinh: “Năm nắng mười mưa dám quản công”; người vợ nhẫn nhịn, tự nguyện gánh vác “giang sơn nhà chồng”: âu đành phận. Phẩm hạnh của bà Tú mang vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam nghìn đời.

+ Đánh giá chung: Bài thơ nổi bật là hình ảnh bà Tú - hiện thân của cuộc đời vất vả lận đận, là hội tụ của bao đức tính tốt đẹp: tần tảo, đảm đang, nhẫn nại... quên mình lo toan cho cuộc sống của chồng con. Đó cũng là hình ảnh tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam xưa.

    1. So sánh hình ảnh người phụ nữ trong hai bài thơ (0,5 điểm):

    • Điểm giống nhau: Thể hiện số phận cay đắng, tủi nhục và khẳng định phẩm chất, bản lĩnh của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến. Từ đó, có thể thấy được giá trị nhân văn sâu sắc trong hai bài thơ.

    • Khác nhau:

+ Bài thơ Tự tình II là lời thở than cho kiếp lẽ mọn, mang nỗi ngậm ngùi duyên phận. Qua đó, bài thơ cũng phản chiếu nỗi đau khổ cũng như khát vọng hạnh phúc mãnh liệt của một bộ phận người phụ nữ khi chịu cảnh chồng chung.

+ Bài thơ Thương vợ là lời tâm tình, thấu hiểu của nhà thơ dành cho vợ, khắc họa hình ảnh tiêu biểu về người vợ, người mẹ Việt Nam truyền thống tần tảo, đảm đang, giàu lòng yêu thương và đức hi sinh.

    1. Sự tiếp nối vẻ đẹp của người phụ nữ xưa ở nhân vật người đàn bà hàng chài (truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa) (0,5 điểm):

    • Người đàn bà hàng chài là người phụ nữ của xã hội hiện đại, sống trong hoàn cảnh đất nước vừa kết thúc

chiến tranh, đang bước vào xây dựng cuộc sống hòa bình.

    • Ở nhân vật này có sự tiếp nối vẻ đẹp của người phụ nữ xưa:

+ Đảm đang, tảo tần lo toan cho gia đình: tấm lưng áo bạc phếch, nửa thân người dưới ướt sũng, lăn lộn

cùng chồng nuôi một đàn con.

+ Giàu đức hi sinh, giàu tình yêu thương: hi sinh hết mình cho chồng, cho con; chấp nhận bị chồng đánh để có các con có chỗ nương tựa; vui nhất khi nhìn đàn con ăn no...

Vẻ đẹp tâm hồn khuất lấp, vẻ đẹp của cuộc sống đời thường và cũng mang bóng dáng của người phụ nữ Việt Nam nghìn đời.

  1. Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,25 điểm):

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa Tiếng Việt.

  1. Sáng tạo (0,5 điểm):

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

Phần II – Câu 1:

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bàn về sự đồng cảm, chia sẻ (san sẻ lợi ích với cộng đồng)

"Thương người như thể thương thân" là đạo lí tốt đẹp của dân tộc ta. Tình thương là lẽ sống tốt đẹp của triệu triệu con người Việt Nam được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, ngày một phát triển mạnh mẽ và sâu sắc. Tình thương, lòng nhân ái là một biểu hiện rõ nét về đạo đức của mỗi người. Tình thương, lòng nhân ái được biểu hiện một cách cụ thể qua thái độ và hành động, đó là đồng cảm và sẻ chia.

Có thương người mới biết đồng cảm và sẻ chia. Nhìn thấy người bất hạnh, tàn tật, ốm đau, đói khổ, hoạn nạn, ta động lòng thương, ta rơi nước mắt, đó là đồng cảm "Một miếng khi đói bằng một gói khi no", đó là san sẻ. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Bác Hồ kêu gọi toàn dân "diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm". Bác Hồ cũng như hàng triệu gia đình đã giảm bớt khẩu phần hàng ngày, dành gạo để cứu đói. Chiến thắng được giặc đói lúc bấy giờ là một thành tích to lớn của cách mạng, là do sức mạnh lòng nhân ái của nhân dân ta.

Sau ba mươi năm chiến tranh, nước ta hiện có hàng chục vạn nạn nhân chất độc da cam. Hàng triệu đồng bào ở vùng sâu, vùng xa còn sống trong cảnh nghèo khó, thiếu thốn, khó khăn. Lũ lụt, bão tố xảy ra triền miên, gây ra cảnh người chết, cảnh màn trời chiếu đất cho nhiều gia đình. Nhiều học sinh đến trường bị nước lũ cuốn trôi; nhiều ngư dân ra khơi đánh cá bị sóng gió cuốn mất tích. Trước những cảnh đau lòng đó, ai mà chẳng động lòng thương, ai mà chẳng rơi nước mắt?

Các phong trào quyên góp do Mặt trận Tổ quốc phát động để cứu giúp, để ủng hộ các nạn nhân chất độc da cam, các bệnh nhân nhiễm HIV - AIDS đã được đồng bào ta hướng ứng nhiệt liệt. Nhiều Việt kiều đã gửi về hàng trăm triệu đồng đóng góp vào quỹ từ thiện được báo chí ngợi ca. Phong trào giúp học sinh nghèo, học sinh khó khăn được đông đảo thầy cô giáo và các bạn trẻ tham gia nhiệt liệt. Tất cả các phong trào đó đã nói lên một cách cảm động sức mạnh đoàn kết, truyền thống nhân ái vô cùng tốt đẹp của dân tộc Việt Nam chúng ta.

Đồng cảm và sẻ chia đã trở thành bài ca, tiếng hát của cả cộng đồng dân tộc. Đồng cảm và sẻ chia đã trở

thành tiếng gọi của lương tâm. Đồng cảm và sẻ chia đã trowr thành sức mạnh đẩy lùi khó khăn, hoạn nạn.

Nói đến đồng cảm và sẻ chia trong xã hội ta ngày nay, tôi không bao giờ quên câu ca mà bà nội tôi vẫn nhắc các con, các cháu:

Phần II – Câu 2:

  1. Mở bài:

Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

Người trong một nước phải thương nhau cùng.

(doc24.vn)

Hình ảnh người phụ nữ vốn là đề tài quen thuộc trong văn học từ xưa đến nay. Các nhà văn, nhà thơ luôn có sự quan tâm sâu sắc đến số phận và vẻ đẹp tâm hồn của họ trong cuộc sống đầy trở ngại, thử thách, đặc biệt là dưới chế độ phong kiến “trọng nam khinh nữ”. Hồ Xuân Hương với bài thơ Tự tình II và Tú Xương với bài thơ Thương vợ đã góp thêm một tiếng nói đồng cảm, giúp người đọc hiểu hơn về cuộc đời, thân phận và phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội xưa vốn nhiều bất công, ngang trái. Những phẩm chất truyền thống đó đã được kế thừa ở nhân vật người đàn bà hàng chài trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”.

  1. Kết bài:

Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong hai bài thơ Tự tình II Thương vợ là hiện thân cho những khổ

đau và kết tinh những đức tính tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam qua hàng nghìn năm. Hình ảnh đó vừa mang ý nghĩa tố cáo, lên án chế độ phong kiến bất công lại có giá trị của một thông điệp về việc xây dựng xã hội tốt đẹp hơn, bình đẳng hơn, hạnh phúc hơn cho những người phụ nữ.

(Đề thi có 02 trang)

ĐỀ THI THỬ THPTQG NĂM 2020

CHUẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐỀ 04

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh: .......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

    1. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Trên bãi cát những người lính đảo Ngồi ghép nhau bao nỗi nhớ nhà Chiều áo rộng vài vạt mây hờ hững Họ cứ ngồi như chum vại hứng mưa

Đảo tái cát

Khóc oan hồn trôi dạt Tao loạn thời bình Gió thắt ngang cây.

Đất hãy nhận những đứa con về cội Trong bao dung bóng mát của người Cầy hãy gọi bàn tay về hái quả

Võng gọi về nghe lại tiếng à ơi...

À ơi tình cũ nghẹn lời

Tham vàng bỏ ngãi kiếp người mong manh.

(Lời sóng 4, trích Trường ca Biển, Hữu Thỉnh, NXB Quân đội nhân dân, 1994)

Câu 1: Xác định thể thơ của đoạn thơ trên.

Câu 2: Cuộc sống của người lính đảo được nhà thơ tái hiện qua những chi tiết, hình ảnh nào?

Câu 3: Theo anh/chị, ý nghĩa của hai câu thơ Chiều áo rộng vài vạt mây hờ hững - Họ cứ ngồi như chum vại hứng mưa là gì?

Câu 4: Nêu hiệu quả của biện pháp tu từ nhân hóa được sử dụng trong câu thơ Đảo tái cát - Khóc oan hồn

trôi dạt - Tao loạn thời bình - Gió thắt ngang cây.

    1. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm): Hình ảnh người lính đảo và thông điệp “kiếp người mong manh” mà nhà thơ gửi gắm ở câu thơ cuối gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về giá trị của cuộc sống. Hãy thể hiện suy nghĩ bằng một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ).

Câu 2 (5,0 điểm): Phân tích bức tranh phố huyện khi chiều về và tâm trạng của nhân vật Liên trước cảnh chiều muộn trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” - Thạch Lam (SGK Ngữ văn 11, tập Một) để thấy được nét “trữ

tình đượm buồn” đặc trưng trong sáng tác của Thạch Lam.

-------------------- HẾT --------------------

Thí sinh không được sử dụng tài liệu! Phụ huynh, thầy cô và đồng đội vui lòng không giải thích gì thêm.

xin cảm ơn!

CHÚC CÁC EM LÀM BÀI TỐT!

  1. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

!

Trong câu hỏi số 3, đối với yêu câu nêu ý nghĩa của một hoặc một số câu thơ, các em cần chú ý:

    • Xác định nội dung cơ bản của đoạn thơ/bài thơ.

    • Đặt câu thơ hoặc một số câu thơ đó trong mối quan hệ đối với đoạn thơ/bài thơ, từ đó xác định ý nghĩa khái quát.

    • Căn cứ vào một số từ ngữ quan trọng trong câu thơ, tiếp tục phát triển, bổ sung thêm ý nghĩa của câu thơ (một số câu thơ).

Câu 1 (0,5 điểm): Thể thơ tự do.

Câu 2 (0,5 điểm):

Cuộc sống của những người lính đảo được nhà thơ tái hiện qua những chi tiết, hình ảnh (Học sinh kể được tối thiểu ba chi tiết, hình ảnh): bãi cát, nỗi nhớ nhà, đảo tái cát, oan hồn trôi dạt, tao loạn thời bình... Câu 3 (1,0 điểm):

Ý nghĩa của hai câu thơ:

    • Gợi hình ảnh những người lính đảo: ngồi quây quần bên nhau trong sự tĩnh lặng, sự sẻ chia, trong nỗi nhớ

quê hương vời vợi, sự gian khổ, vất vả.

    • Thể hiện tâm hồn nhạy cảm, giàu yêu thương, tinh thần kiên cường, bền bỉ của họ.

Câu 4 (1,0 điểm):

Hiệu quả:

    • Tăng tính hàm súc và gợi tả cho câu thơ.

    • Gợi nỗi đau, những mất mát lớn lao trước sự hi sinh của người lính, nỗi đau lan tỏa cả đất trời và gợi lên những nghịch lí oan trái mà người lính thời bình phải chịu. Đó là sự hi sinh thầm lặng để mang lại cuộc sống hòa bình cho Tổ quốc.

  1. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm):

!

Đối với dạng đề nghị luận xã hội đưa ra nhiều hơn một thông tin từ văn bản Đọc - hiểu (ở đề này là hình ảnh người lính đảo và cụm từ “kiếp người mong manh” trong câu thơ cuối), các em cần chú ý:

    • Tìm ra mối liên hệ giữa hai thông tin đó, để từ đó hiểu sâu hơn về vấn đề nghị luận.

    • Dựa vào những thông tin đó để xây dựng luận điểm cho bài nghị luận.

  1. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn (0,25 điểm)

Có thể trình bày đoạn văn theo nhiều cách: diễn dịch, quy nạp, móc xích, song hành...

  1. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm):

Giá trị cuộc sống của mỗi người.

  1. Triển khai vấn đề nghị luận (1,0 điểm):

Có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng cần

làm rõ được quan niệm về giá trị cuộc sống mà mỗi cá nhân theo đuổi. Có thể theo hướng sau:

    • Người lính đảo có cuộc sống rất khó khăn nhưng đó là cuộc sống đầy ý nghĩa. “Kiếp người mong

manh” nói về thời gian sống của mỗi cá nhân rất ngắn ngủi, hữu hạn. Bởi vậy, mỗi người đều cần biết tận dụng khoảng thời gian ngắn ngủi đó để tạo nên giá trị cuộc sống.

    • Giá trị cuộc sống gồm cả những giá trị vật chất như sức khỏe, tiền bạc... cũng gồm cả những giá trị tinh thần như tri thức, phẩm chất, tâm hồn, sự cống hiến, hi sinh, quan hệ xã hội... Con người cần tạo ra và tích lũy những giá trị đó, đồng thời biết cân bằng và hài hòa giữa các giá trị. Có như vậy mới có được cuộc sống có ý nghĩa và góp phần phát triển xã hội.

    • Phê phán những con người chọn lối sống ích kỉ, thực dụng, sống hoài, sống phí.

    • Liên hệ bản thân: bản thân là người trẻ tuổi đã sử dụng thời gian như thế nào để sống có ích nhất, đóng

góp được nhiều nhất cho xã hội.

  1. Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,25 điểm):

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa Tiếng Việt.

  1. Sáng tạo (0,25 điểm):

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

Câu 2 (5,0 điểm):

!

Đây là dạng đề nghị luận về một ý kiến bàn về văn học, tuy nhiên ý kiến có phần “ẩn” đi nên đôi khi các em

sẽ xác định sai lệch vấn đế nghị luận. Bởi vậy các em cần chú ý:

    • Đọc kĩ để bài, lưu ý đặc biệt đến các từ, cụm từ được đặt trong dấu ngoặc kép.

    • Cần giải thích từ, cụm từ đó và việc giải thích sẽ là cơ sở để xây dựng các luận điểm trong bài văn.

  1. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận (0,25 điểm):

Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết bài. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân.

  1. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm):

Nét “trữ tình đượm buồn” thể hiện trong cảnh phố huyện lúc chiều tà và tâm trạng của Liên.

  1. Triển khai vấn đề nghị luận:

Cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp dẫn chứng và lí lẽ.

    1. Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm (0,5 điểm):

Thạch Lam là một trong những cây bút văn xuôi trụ cột của Tự lực văn đoàn. Tuy nhiên, Thạch Lam đã tự xác định cho mình một lối đi riêng. Hướng ngòi bút lãng mạn, giàu cảm xúc nhẹ nhàng và tinh tế vào những kiếp người nghèo khổ, những truyện ngắn tài hoa của ông thực sự như những bài thơ xinh xắn, duyên dáng và đậm chất nhân văn. “Hai đứa trẻ” trích từ tập “Nắng trong vườn” là một trong những truyện ngắn như thế.

    1. Giải thích (0,25 điểm)

Trữ tình”: giàu cảm xúc, giàu chất thơ. Nét “trữ tình đượm buồn” là chỉ một đặc trưng trong sáng tác của Thạch Lam: những câu chuyện phảng phất nỗi buồn về kiếp người, cốt truyện đơn giản, thiên về miêu tả những cung bậc cảm xúc, sắc thái tâm trạng.

    1. Phân tích khung cảnh phố huyện buổi chiều và tâm trạng của nhân vật Liên (2,25 điểm)

CHÚ Ý

    • Chất trữ tình đượm buồn trong khung cảnh phố huyện:

+ Khung cảnh thiên nhiên man mác buồn.

+ Hình ảnh con người là những kiếp sống lay lắt, mòn mỏi.

    • Chất trữ tình đượm buồn toát ra từ diễn biến tâm trạng của Liên:

+ Tâm trạng buồn.

+ Niềm thương cảm cho những kiếp người nhỏ nhoi, lay lắt.

  • Chất trữ tình đượm buồn toát ra từ khung cảnh phố huyện buổi chiều:

Khung cảnh phố huyện khi chiều xuống được lọc qua cái nhìn và tâm trạng, cảm giác của nhân vật Liên, nên

cũng thấm đượm cảm xúc trữ tình.

    • Cảnh vật hiện lên có hồn, êm ả, thi vị mà đượm buồn: Câu chuyện mở ra bằng những âm thanh và hình ảnh báo hiệu một ngày tàn. Âm thanh của tiếng trống thu không “từng tiếng một vang xa để gọi buổi chiều”, của tiếng ếch nhái “kêu ran ngoài đồng ruộng”, hình ảnh của phương Tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn. Nhà văn như nhập mình vào linh hồn cảnh vật quê hương khiến bức tranh quê hiện lên gần gũi, thân thuộc mà gợi cảm biết bao. Bức tranh đầy chất thơ, lọc qua ánh mắt “bóng tối ngập đầy dần” của Liên mang nét buồn nao nao, man mác, pha lẫn chút bâng khuâng.

    • Con người hiện lên với kiếp sống mòn mỏi, tăm tối; tuy vậy tâm hồn họ vẫn ánh lên vẻ đẹp đáng trân trọng:

bám vào cuộc sống mưu sinh với niềm hi vọng nhỏ nhoi.

+ Khung cảnh chợ tàn: “Chợ chiều đã tan, người về hết, tiếng ồn ào cũng mất”. Chợ là nơi phô bày cuộc sống thực tế của một vùng quê. Không phải ngẫu nhiên mà Thạch Lam chọn một ngày chợ phiên, bởi chỉ có chợ phiên mới thấm thía hết sự tiêu điều, xơ xác của chốn quê nghèo. Chợ tàn, âm thanh đã khuất dạng, trên bãi chợ chỉ còn lại đầy rác rưởi: vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn - những đồ phế thải thảm hại, nheo nhếch, bẩn thỉu.

+ Những cư dân phố huyện trong bóng chiều:

++ Mấy đứa trẻ con nhà nghèo sau phiên chợ ùa ra tìm kiếm, nhặt nhạnh những gì còn có thể dùng được. Nhưng còn tìm được gì, kiếm được gì ở những đồ phế loại tồi tàn ấy. Người này dựa vào người kia để sống nhưng tất cả chỉ dựa vào vô vọng.

++ Mẹ con chị Tí với gánh hàng nghèo, chiều nào cũng dọn hàng từ chập tối nhưng niềm hi vọng của chị thật mong manh. Sự uể oải, lay lắt thấm đậm khiến cả những lời trò chuyện thông thường cũng không cất lên nổi, khi Liên hỏi, chị “chép miệng mãi mới trả lời”. Đó là hình ảnh của kiếp sống cầm chừng, lần hồi qua ngày.

++ Chị em Liên và An phải “thức để trông một cửa hàng tạp hoá nhỏ xíu, dọn từ khi cả nhà bỏ về quê vì bố Liên mất việc”. Nhưng có lẽ con đường mưu sinh ấy cũng chẳng sáng sủa gì bởi hôm nay là ngày phiên mà hàng bán cũng không được mấy.

++ Trong đám cư dân phố huyện, dễ sợ nhất là bà cụ Thi hơi điên với tiếng cười khanh khách man dại tan trong không gian quạnh quẽ. Đây có lẽ là sản phẩm nhỡn tiền của cuộc sống mòn mỏi nơi phố huyện. Cuộc sống quẫn bách ấy đã chôn vùi đi một nửa ý thức của con người. Con người đang đánh mất dần chính mình.

++ Tuy nhiên, ngày nào cũng như ngày nào, bằng đấy con người vẫn bám vào con đường mưu sinh, dù

chỉ là bám vảo hi vọng nhỏ nhoi, yếu ớt.

  • Chất trữ tình đượm buồn toát ra từ diễn biến tâm trạng của nhân vật Liên:

    • Tâm trạng man mác buồn trước khung cảnh phố huyện lúc chiều tàn: Trong khoảnh khắc thời gian ấy, cái buồn của buổi chiều quê cứ thấm thìa vào tâm hồn Liên, từ từ dâng lên và ngập tràn bởi dường như mọi chi tiết, hình ảnh âm thanh xuất hiện ở thời điểm này đều rất gợi buồn. Cảm giác man mác buồn từ cảnh vật thấm vào lòng người và nỗi buồn trong tâm hồn ngây thơ lan toả ra cảnh vật.

    • Niềm xót xa, thương cảm với những kiếp người nhỏ nhoi, lay lắt trong bóng tối.

+ Hình ảnh những đứa trẻ nghèo đi nhặt rác khốn khổ, cơ cực gieo vào lòng Liên một nỗi buồn thẳm sâu,

một nỗi thương cảm xót xa.

+ Liên ngậm ngùi cho mẹ con chị Tí hay cũng là nỗi ngậm ngùi cho cảnh sống của chính mình.

+ Liên và An thấy sợ, đứng lặng nhìn theo cụ Thi điên đi về phía làng. Nỗi sợ hãi đơn thuần của trẻ con hay mơ hồ một sự hoảng hốt trước nhịp sống nghèo nàn, đơn điệu đang bào mòn nhân tính của con người, trước sự bế tắc, vô vọng của cuộc sống.

Với gam màu ánh sắc hoàng hôn và một vài hình ảnh đời thường xoàng xĩnh Thạch Lam đã vẽ nên một mảng tranh sinh động của phố huyện nghèo, vừa gợi cảm giác êm đềm, thi vị, lại vừa gợi sự nghèo khó lam lũ. Trong bức tranh ấy, thật khó mà nói cho rạch ròi nỗi buồn từ cảnh vật thấm vào lòng người hay nỗi buồn trong tâm hồn Liên lan toả ra, nhuốm vào cảnh vật, chỉ biết ở đây có một cái gì rất nhịp nhàng, hoà hợp, một nỗi buồn lây vào nhau, nhuốm vào nhau để dâng đầy hơn “đôi mắt chị bóng tối ngập dần đầy”.

    1. Đánh giá chung (0,5 điểm)

      • Làm nên sắc thái trữ tình trong Hai đứa trẻ chủ yếu là cảm xúc buồn thương và giọng thủ thỉ trầm lắng, thiết tha qua miêu tả khung cảnh, tâm trạng.

      • Chất trữ tình đượm buồn mang lại cho Hai đứa trẻ một vẻ đẹp riêng, thể hiện phong cách nghệ thuật đặc sắc của Thạch Lam.

  1. Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,25 điểm):

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa Tiếng Việt.

  1. Sáng tạo (0,5 điểm):

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

Phần II – Câu 1:

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Cuộc sống của bạn phải có mục đích và ý nghĩa

Chắc hẳn đã từng có những lúc bạn tự hỏi mục đích và ý nghĩa cuộc sống của mình là gì? Đó chính là lúc bạn đang trăn trở tìm hướng đi và ý nghĩa cho cuộc sống của mình, đó là lúc bạn đã ý thức được và có khát vọng đi tìm niềm vui và hạnh phúc thực sự. Một nhà hiền triết đã từng nói “Cuộc hành trình lớn nhất của một đời người là đi tìm chính bản thân mình, trải nghiệm và thử thách tất cả để tìm ra mình là ai”, hay là “tận lực tri thiên mệnh”. Bạn sinh ra và lớn lên trong cuộc sống này chắc chắn không phải chỉ để tồn tại, hay làm cái bóng của người khác và bạn cũng chẳng bao giờ muốn mình làm nền cho bất kỳ ai. Bạn phải là chính bạn. Bạn nên biết rằng sự tồn tại của bạn đã làm thay đổi rất nhiều điều xung quanh. Những chặng đường bạn đi qua, những công việc bạn đã và đang làm, những người bạn từng gặp, tiếp xúc hay kết bạn ắt hẳn sẽ khác đi nếu không có bạn. Bạn đã để lại một dấu ấn rất riêng trong công việc, trong tình cảm, ký ức kỷ niệm hay trong tâm hồn của họ và bạn sẽ còn tác động đến thế giới xung quanh bởi những ý tưởng, ước mơ, hoài bão và hành động cụ thể, hay đơn giản hơn là sự tồn tại của chính bạn. Bạn có thể bận bịu với công việc hay chú tâm tới một điều nào đó trong một giai đoạn của cuộc sống, nhưng sau cùng bạn sẽ luôn thức tỉnh bởi những khát vọng, ước mơ từng có trong tiềm thức, hay đôi khi ngay từ thuở thiếu thời. Và điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với cuộc sống của bạn. Mục đích cuộc sống có thể là điều mà mãi đến sau này, qua quá trình trải nghiệm để trưởng thành bạn mới tìm ra hay đôi khi, nó đã được định hình ngay từ những năm tháng khi bạn bắt đầu biết cảm nhận cuộc sống. Trong cuộc sống, tất cả chúng ta đều có mối liên hệ với nhau và ít nhiều bị ảnh hưởng qua lại bởi những suy nghĩ, việc làm, quyết định của những người xung quanh, đôi khi bởi cả sự tồn tại đơn thuần của họ. Các nghiên cứu trên những người trưởng thành trên thế giới gần đây đã chứng minh một trong những dấu hiệu chính xác nhất cho thấy một người có hạnh phúc hay không tùy thuộc vào việc người đó có định hướng cho mình một ước mơ, mục đích sống hướng thiện, hay có quan tâm đến người khác hay không. Khi sống mà không có mục đích cụ thể hay sống trong vị kỷ, 70 trong số 100 người cảm thấy cuộc sống bấp bênh và vô nghĩa, còn khi có một mục tiêu cụ thể, dám hành động và biết chia sẻ thì gần 70/100 người lại cảm thấy hài lòng và cảm nhận được niềm vui và ý nghĩa của cuộc sống.

Lepper, nguồn: Bí mật của hạnh phúc - First News và NXB Trẻ TPHCM

Phần II – Câu 2:

Tâm trạng của Liên trước cảnh chiều muộn

Câu chuyện mở ra từ một cảnh chiều tà. Trong khoảnh khắc thời gian ấy, cái buồn của buổi chiều quê cứ thấm thía vào tâm hồn Liên, từ từ dâng lên và ngập tràn bởi dường như mọi chi tiết, hình ảnh, âm thanh xuất hiện ở thời điểm này đều rất gợi buồn. Đó là âm thanh của tiếng trống thu không vang xa từng tiếng một như gọi buổi chiều, nó báo hiệu giờ khắc của ngày tàn. Đó là ánh sắc của hoàng hôn tuy có rực lên nhưng là cái rực rỡ của một hòn than sắp tắt. Đó là tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng, tiếng muỗi vo ve như đếm nhịp thời gian và điểm nhịp cho một ca khúc buồn. Trong sắc chiều ảm đạm, hiện lên hình ảnh chợ chiều “người về hết và tiếng ồn ào cũng mất”, chỉ còn lại bãi chợ nheo nhếch, bẩn thỉu, chỉ còn lại không gian quạnh vắng hiu hắt. Trên bãi chợ, mấy đứa trẻ con nhà nghèo đang cặm cụi tìm kiếm những gì còn dùng được. Hình ảnh chúng khốn khổ, cơ cực gieo vào lòng Liên một nỗi buồn thẳm sâu, một nỗi thương cảm xót xa. Trời tối dần, bóng chiều nhập nhoạng, mẹ con chị Tí khiêng ghế, vác chõng ra bán hàng nước. Cái cửa hàng ít ỏi, nghèo nàn với niềm hi vọng lay lắt “chả kiếm được bao nhiêu”, sự lay lắt như thấm toả vào lòng Liên. Liên ngậm ngùi cho mẹ con chị hay cũng là nỗi ngậm ngùi cho cảnh sống của chính mình. Thêm một cư dân nữa trong bóng chiều, đó là bà cụ Thi điên với tiếng cười man dại như phá vỡ không gian. Bà bước đi

xiêu đổ trên con đường làng. Hình bóng bà cụ chìm dần vào bóng tối. Liên và An thấy sợ, đứng lặng nhìn theo cụ đi về phía làng. Nỗi sợ hãi đơn thuần của trẻ con hay mơ hồ một sự hoảng hốt trước nhịp sống nghèo nàn, đơn điệu đang bào mòn nhân tính của con người, trước sự bế tắc, vô vọng của cuộc sống.

Số trang

(Đề thi có 02 trang)

ĐỀ THI THỬ THPTQG NĂM 2020

CHUẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐỀ 05

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh: .......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

  1. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi:

... Với học sinh, thách thức của các em cũng vô cùng to lớn.

Là thế hệ của thế kỉ 21, các em sẽ phải đối mặt với một thế giới đầy biến động: những biến đổi khí hậu bất thường, nguồn tài nguyên đang cạn kiệt, môi trường đang ô nhiễm và bị tàn phá ghê gớm. Ngoài ra, những định hướng nghề nghiệp em chọn cho mình trong hôm nay, chưa chắc có thể tồn tại ở ngày mai. Trong 1 công trình nghiên cứu của mình, Howard Gardner, cha đẻ của thuyết đa trí tuệ đã từng chỉ ra: đến năm 2030, 47% nghề nghiệp hiện nay sẽ bị biến mất. Nghĩa là có những nghề nghiệp mới ra đời và thay thế nghề nghiệp cũ, em đã chuẩn bị tâm thế cho mình trước sự thay đổi đó chưa?

Lại thêm 1 câu hỏi nữa đặt ra “Liệu chúng ta, thế hệ của một Việt Nam đầy sức trẻ có tụt hậu với cuộc

cách mạng 4.0 như khi ta tụt hậu với cuộc cách mạng 3.0 hay không”?

Cốt lõi của sự thay đổi là sự dũng cảm của mỗi người. Dũng cảm để thừa nhận, dũng cảm để học hỏi, dũng cảm để tìm giải pháp, cách thức, dũng cảm để đối đầu.

Các em dũng cảm để đối mặt với việc lười nhác, với việc học tập thụ động. Đối mặt với những thói hư tật xấu của mình và xã hội. Đối mặt với sự vô cảm của mình ngay cả với những người thân yêu nhất. Đối mặt với thách thức để các em nhận ra mình thiếu tư duy phản biện, một phẩm chất không thể thiếu của công dân thế kỷ 21...

(Bài phát biểu khai giảng - Thầy Nguyễn Minh Quý - THPT Trần Nguyên Hãn - Hải Phòng 05/09/2017)

Câu 1: Xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn văn bản trên.

Câu 2: Người viết đã chỉ ra những thách thức gì mà các em học sinh phải đối mặt ở thế kỉ 21?

Câu 3: Anh/chị hãy cho biết tác dụng của phép điệp cấu trúc “Đối mặt với....” được sử dụng ở đoạn văn cuối?

Câu 4: Nêu một số thông điệp quan trọng mà thầy giáo muốn nhắn gửi đến các em học sinh qua nội dung bài phát biểu.

  1. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm): Trình bày suy nghĩ của anh/chị bằng một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) về quan niệm được đưa ra trong văn bản Đọc - hiểu nói trên: “Cốt lõi của sự thay đổi là sự dũng cảm của mỗi người”.

Câu 2 (5,0 điểm): Bàn về truyện ngắn “Hai đứa trẻ”, Nguyễn Tuân đã cho rằng đối với hai chị em Liên và An “Hình ảnh đoàn tàu và tiếng còi tàu đã thành một thói quen của cảm xúc và ước vọng”. Hãy phân tích cảnh đợi tàu của hai chị em Liên và An trong tác phẩm “Hai đứa trẻ” - Thạch Lam (SGK Ngữ văn 11 tập Một) để làm sáng tỏ nhận xét trên. Từ đó hãy liên hệ với cảnh lấy vợ của nhân vật Tràng trong truyện ngắn “Vợ nhặt” (SGK Ngữ văn 12, tập Hai) để nhận xét về khát vọng sống của những người lao động nghèo khổ.

-------------------- HẾT --------------------

Thí sinh không được sử dụng tài liệu! Phụ huynh, thầy cô và đồng đội vui lòng không giải thích gì thêm.

!xin cảm ơn!

CHÚC CÁC EM LÀM BÀI TỐT!

  1. ĐỌC-HIỂU (3,0 điểm)

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Trong câu hỏi số 2 và số 4, các em cần chú ý: yêu cầu có xuất hiện các cụm từ như “một số”, “những”... thì trong câu trả lời cần có ít nhất là từ hai phương án trở lên. Đáp án của những câu hỏi theo dạng thức như vậy thường là đáp án mở nên các em có thể đưa ra phương án theo quan niệm cá nhân, nhưng cần bám vào nội dung văn bản và có tính hợp lí.

Câu 1 (0,5 điểm):

Phong cách ngôn ngữ chính luận/ Phong cách chính luận.

Câu 2 (0,5 điểm):

Nêu được ít nhất hai thách thức: biến đổi khí hậu, tài nguyên cạn kiệt, môi trường ô nhiễm, thay đổi nghề nghiệp.

Câu 3 (1,0 điểm):

Tác dụng:

    • Tạo nhịp điệu giục giã.

    • Nhấn mạnh và khẳng định sự cần thiết của thái độ dũng cảm đối đầu với thách thức của các bạn học sinh.

Câu 4 (1,0 điểm):

Học sinh có thể tùy theo hiểu biết của cá nhân mà đưa ra các thông điệp khác nhau, cần đảm bảo tính hợp

lí, thuyết phục và logic. Nêu ra được ít nhất hai thông điệp.

Gợi ý:

      • Cần chuẩn bị tâm thế để lựa chọn nghề nghiệp, tìm hiểu về nghề nghiệp hiện tại và nghề nghiệp trong

tương lai để có lựa chọn cho đúng.

      • Cần dũng cảm để thay đổi, phải có sự dũng cảm mới có thể thay đổi.

      • Cần đối mặt với những thách thức trong cuộc sống, không nên lảng tránh, bị động mà cần chủ động,

linh hoạt.

      • Cần có tư duy phản biện, tư duy này cần được rèn luyện để giúp con người trưởng thành trong một xã

hội đang phát triển với tốc độ nhanh chóng.

  1. LÀM VĂN (7,0 điểm):

Câu 1 (2,0 điểm):

!

Đối với dạng nghị luận xã hội này, đôi khi học sinh có thể xác định không đúng trọng tâm nghị luận: bàn về vấn đề sự thay đổi thay vì bàn về lòng dũng cảm. Các em cần chú ý đọc kĩ yêu cầu, thông thường vấn đề trọng tâm thường nằm ở phân cuối của quan điểm, ý kiến được nêu ra.

  1. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn (0,25 điểm)

Có thể trình bày đoạn văn theo nhiều cách: diễn dịch, quy nạp, móc xích, song hành...

  1. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận(0,25 điểm):

Sự cần thiết phải có lòng dũng cảm để thay đổi.

  1. Triển khai vấn đề nghị luận (1,0 điểm):

Có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng cần làm rõ được suy nghĩ về sự quan trọng của lòng dũng cảm mang tới sự thay đổi trong cuộc sống. Có thể theo hướng sau:

    • Giải thích: “Cốt lõi” là chỉ yếu tố nòng cốt, quan trọng nhất quan niệm khẳng định yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự thay đổi là lòng dũng cảm.

    • Quan niệm rất đúng đắn. Khi có lòng dũng cảm, mỗi bạn trẻ mới có thể thay đổi được bản thân mình, sống tốt hơn, đương đầu và vượt qua thách thức, góp phần thay đổi xã hội. (dẫn chứng từ các hoạt động tình nguyện của học sinh, sinh viên, từ các tấm gương những người trẻ tuổi vượt lên hoàn cảnh để thay đổi chính mình như Nguyễn Công Hùng; Nguyễn Thảo Vân; Nguyễn Linh Chi...)

    • Mỗi người đều cần rèn luyện sự dũng cảm và có ý thức thay đổi. Phê phán những bạn trẻ có thái độ sống ỷ lại, thụ động, hèn nhát, yếu đuối.

    • Liên hệ, rút ra bài học cho bản thân: bản thân đã lựa chọn lối sống, cách sống như thế nào, đã nỗ lực để

thay đổi những điều gì nhằm tạo nên một cuộc sống tốt đẹp hơn.

  1. Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,25 điểm):

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa Tiếng Việt.

  1. Sáng tạo (0,25 điểm):

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

!

Cụ thể một số dẫn chứng:

    • Nguyễn Công Hùng bị liệt từ năm hai tuổi, chỉ có một ngón tay cử động được. Song anh đã dũng cảm vượt lên hoàn cảnh, tự học, mở trung tâm dạy Tin học cho người khuyết tật, sáng lập trang web để tìm kiếm cơ hội việc làm cho người khuyết tật.

    • Cô bé Nguyễn Linh Chi - Yên Bái sinh ra bẩm sinh đã không có chân, không có tay. Nhưng cô bé vẫn sống lạc quan, quyết tâm học tập. Cô bé đã tự rèn luyện để có thể viết và làm Toán như bao bạn bè đồng trang lứa.

Câu 2 (5,0 điểm)

!

Đối với dạng đề nghị luận văn học: minh chứng cho một ý kiến thông qua việc phân tích một phần, một yếu tố nào đó trong tác phẩm văn học, các em cần chú ý:

    • Giải thích nội dung ý kiến và xác định chính xác phạm vi dẫn chứng sẽ sử dụng để làm sáng tỏ cho ý kiến.

    • Phân chia ý kiến thành các vế, các nội dung nhỏ hơn, bám vào nội dung đó để phân tích.

    • Nhìn nhận, đánh giá các vấn đề trong bài làm trong mối quan hệ với tổng thể tác phẩm.

  1. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận (0,25 điểm):

Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Ket bài. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân.

  1. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm):

Ý nghĩa, giá trị tư tưởng của cảnh đợi tàu trong tác phẩm “Hai đứa trẻ” (làm sáng tỏ qua một ý kiến); liên

hệ với cảnh lấy vợ trong truyện ngắn “Vợ nhặt”.

  1. Triển khai vấn đề nghị luận:

Cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp dẫn chứng và lí lẽ.

    1. Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm (0,5 điểm):

Thạch Lam là cây bút văn xuôi xuất sắc của Tự lực văn đoàn. Mặc dù cuộc đời sáng tạo nghệ thuật của Thạch Lam rất ngắn ngủi nhưng nhiều tác phẩm của ông lại có sức sống mạnh mẽ và tồn tại bền vững với thời gian. -“Hai đứa trẻ” được in trong tập “Nắng trong vườn” (1938) là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Thạch Lam.

    1. Giải thích ý kiến (0,25 điểm)

Thói quen”: chỉ hành động hoặc cách ứng xử lặp lại đã thành quen thuộc. Nhận xét của Nguyễn Tuân đã nêu bật giá trị, ý nghĩa cảnh đợi tàu của hai chị em Liên và An: đó là sự thể hiện của thói quen, đồng thời cũng là biểu hiện của cảm xúc, tâm trạng và những mơ ước, khát vọng.

    1. Phân tích cảnh đợi tàu để chứng minh cho ý kiến (1,75 điểm):

CHÚ Ý

Cảnh đợi tàu:

    • Hình ảnh đoàn tàu là thói quen của cảm xúc: là cảnh tượng quen thuộc, luôn được mong chờ; đoàn tàu đến

mang theo nhiều cung bậc cảm xúc.

    • Hình ảnh đoàn tàu là thói quen của ước vọng: hình ảnh đoàn tàu đây âm thanh và ánh sáng; hình ảnh đoàn

tàu thể hiện cho mơ ước, khát vọng vượt thoát khỏi cuộc sống phố huyện tối tăm..

    • Hình ảnh đoàn tàu và tiếng còi tàu là một thói quen của cảm xúc:

+ Cảnh đợi tàu là cảnh tượng quen thuộc, đêm nào cũng như đêm nào, hai chị em luôn cố thức đợi chuyến tàu đêm đi qua phố huyện. Cảm xúc chờ đợi đã trở thành một thói quen, dường như không nhìn thấy chuyến tàu thì hai đứa trẻ chưa sống trọn vẹn một ngày. Bé An dù buồn ngủ gục trên vai chị vẫn cố dặn chị gọi dậy và khi nghe tiếng chị, bé lập tức tỉnh ngủ. Còn Liên, cô bé ngồi im lặng, lắng nghe âm thanh của đoàn tàu từ phía xa. Đoàn tàu được chờ đón như thể đó là sự kiện chỉ diễn ra duy nhất một lần trong năm.

+ Đoàn tàu mang đến nhiều cung bậc cảm xúc cho hai chị em: trước khi tàu đến háo hức, mong chờ; khi tàu đến vui sướng, quan sát, ngắm nhìn tỉ mỉ, phấn khích với từng ô cửa kính sáng, với đồng và kền lấp lánh; khi tàu đi qua tiếc nuối nhìn theo ngọn đèn sáng xanh ở toa sau cùng, hụt hẫng và buồn bã.

    • Hình ảnh của đoàn tàu và tiếng còi tàu là một thói quen của ước vọng:

+ Hình ảnh đoàn tàu tràn đầy âm thanh, ánh sáng: tiếng còi tàu từ xa, tiếng bánh xe rít mạnh vào ghi, tiếng hành khách ồn ào khe khẽ; ánh sáng của làn khói trắng sáng, những toa tàu sáng trưng, đồng và kền lấp lánh... Hình ảnh đoàn tàu hoàn toàn đối lập với phố huyện tịch mịch và đầy bóng tối. Hình ảnh đó khơi gợi, khẳng định mơ ước, khát vọng của hai chị em: mơ tưởng về một thế giới khác, mơ tưởng về Hà Nội xa xăm và rực rỡ, nhớ lại tuổi thơ hạnh phúc; khao khát được đổi đời, khao khát được sống một cách đích thực...

+ Mơ tưởng đó, khát vọng đó dù nhỏ bé nhưng không chỉ là thoáng chốc mà rất bền bỉ, mãnh liệt. Hai chị em và những cư dân khác của phố huyện ngày nào cũng ngóng chờ đoàn tàu trong bóng đêm. Đó là thói quen cũng là sự thôi thúc từ bên trong của niềm hi vọng. Cuộc sống khó khăn, nghèo đói, mòn mỏi nhưng họ không thôi chờ đợi một tương lai tươi sáng hơn đến với họ.

    1. Đánh giá, bình luận (0,5 điểm):

Học sinh cần đánh giá mức độ hợp lí của ý kiến, có thể theo hướng:

      • Ý kiến xác đáng, thể hiện giá trị, ý nghĩa nhân văn sâu sắc của cảnh đợi tàu trong câu chuyện. Có thể

xem ý kiến là một định hướng cho người đọc khi tiếp cận nội dung tác phẩm.

      • Cảnh tượng đợi tàu xuất hiện ở cuối truyện nhưng đã góp phần thể hiện tấm lòng, sự cảm thông, chia sẻ của Thạch Lam với những mảnh đời nhỏ bé, bất hạnh.

    1. Liên hệ với cảnh lấy vợ của nhân vật Tràng trong truyện ngắn “Vợ nhặt” (0,75 điểm):

CHÚ Ý

    • Cảnh lấy vợ của Tràng thể hiện khát vọng sống mãnh liệt của hai con người: Tràng và người vợ nhặt.

    • Khát vọng đó cho thấy phẩm chất tốt đẹp, niềm tin và hi vọng của người lao động nghèo khổ dù bị dồn vào

bước đường cùng.

    • Tái hiện cảnh lấy vợ: Nhân vật Tràng lấy vợ một cách rất đặc biệt và rất éo le: nhặt được vợ. Một người đàn bà xa lạ từ những câu nói đùa vu vơ, từ khao khát được ăn, từ bốn bát bánh đúc đã nhận lời theo không Tràng về làm vợ. Tràng đã chặc lưỡi chấp nhận việc đó bất chấp sự đe dọa của cái chết trong nạn đói năm 1945. Một đám cưới nhỏ đã diễn ra giữa một đám ma to.

      • Ý nghĩa: Cuộc hôn nhân ấy, xét đến cùng là biểu hiện cho khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc mãnh liệt của hai con người: Tràng và người vợ nhặt. Thị có một lòng ham sống mãnh liệt. Thị đồng ý theo Tràng là vì để được sống chứ không phải là loại đàn bà con gái lẳng lơ. Thị bất chấp tất cả để được ăn, ăn để được tồn tại. Đó là ý thức bám lấy sự sống. Cận kề bên cái chết, người đàn bà không hề buông xuôi sự sống. Trái lại, thị vẫn vượt lên trên cái thảm đạm để dựng xây mái ấm gia đình. Còn Tràng, xuất phát là từ lòng thương hại, sự đùm bọc, sẻ chia nhưng hơn thế, sâu thẳm trong tâm hồn người đàn ông khốn khổ vẫn là khát vọng hạnh phúc gia đình. Cái chết đang bủa vây cũng không làm Tràng sợ hãi. Trái lại, tràn ngập trong lòng anh là niềm vui, sự phấn khởi. Buổi sáng sau đêm tân hôn, anh thấy mình nên người nghĩa là cuộc hôn nhân đã thực sự giúp anh trưởng thành, lạc quan và tin tưởng hơn vào cuộc sống.

      • Nhận xét: Cảnh lấy vợ của Tràng và cảnh đợi tàu đều cho thấy khát vọng sống mãnh liệt, bền bỉ của những người lao động nghèo khổ. Dù bị đẩy vào bước đường cùng, dù đối diện với muôn vàn khó khăn, họ vẫn không thôi tin tưởng và hi vọng vào tương lai và hạnh phúc. Hai khung cảnh ở hai tác phẩm, của hai nhà văn viết vào hai thời đại khác nhau nhưng đều mang giá trị nhân văn sâu sắc, góp phần làm nên sức sống cho tác phẩm.

  1. Chỉnh tả, dùng từ, đặt câu (0,25 điểm):

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa Tiếng Việt.

  1. Sáng tạo (0,5 điểm):

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

Phần I – Câu 1:

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bàn về lòng dũng cảm

Con người ta luôn có những phẩm chất nhất định để hoàn thiện nhân cách của mình. Trong xã hội của chúng ta, có người tốt, có người xấu nhưng ở họ luôn ẩn chứa những bí mật tiềm ẩn, giấu kín trong tâm hồn để đến một lúc nào đó có thể vỡ vụn ra, giúp họ vượt qua được khó khăn, thử thách trong cuộc sống. Không ai trong chúng ta là hoàn hảo cả nhưng lòng dũng cảm thì nhất định phải có, là chìa khóa đế giúp chúng ta thành công.

Lòng dũng cảm là gan dạ, quả quyết, vững tâm, dám đối đầu với những thách thức, nguy hiểm. Đôi lúc, nó tự bộc phát trong chính bản thân chúng ta khi gặp một chuyện gì đó mà ta không nghĩ là mình có được nó. Nhưng đôi khi, lòng dũng cảm cần được phải rèn luyện và kiên trì qua từng sóng gió để trưởng thành, hoàn thiện mình hơn.

Trong cuộc sống hiện nay, lòng dũng cảm rất cần thiết và có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, đóng góp một phần không nhỏ vào phẩm chất đạo đức của bạn, giúp bạn có sức mạnh để vượt qua chông gai, sóng gió lớn trong cuộc đời. Lòng dũng cảm là một đức tính tốt, thể hiện sự mãnh mẽ, tự tin của con người trong cuộc sống. Bạn có thể dũng cảm vì bản thân mình nhưng bạn có thể dũng cảm về người khác, xả thân mình vì người khác, không mang đến lợi ích cá nhân.

Đối với bản thân, chúng ta dũng cảm khi chúng ta dám đối mặt với sự thật trớ trêu, chúng ta dũng cảm khi chúng ta dám làm những gì trước trước đây mình chưa dám thử, chúng ta dũng cảm khi dám nhận trách nhiệm về bản thân mình và không bao giờ đổ lỗi cho người khác, chúng ta dũng cảm khi chúng ta quên đi sự hèn nhát của chính bản thân mình. Điều đó thật tuyệt vời biết mấy... Khi con người ta dũng cảm vì người khác, con người ta sẽ cảm thấy hạnh phúc hơn về chính phẩm chất của mình. Nhà thơ Tố Hữu đã từng nhấn mạnh: “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”. Cho đi là được nhận lại nhiều hơn. Có thể đó không phải là vật chất quý giá, ngay cả ở tinh thần cũng đã quý giá biết bao. Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng biết đến những chiến sĩ công an, sắn sàng hi sinh bản thân mình để mang lại sự bình yên cho Tổ quốc, xây dựng và phát triển đất nước ngày càng ấm no hạnh phúc... Con đường họ đang đi dẫu có nhiều khó khăn vất vả nhưng nhờ có lòng dũng cảm, họ có thể vượt qua được những điều đó... Ai trong chúng ta cũng đã từng nghe qua câu chuyện về chị Võ Thị Sáu - người anh hùng dân tộc. Tuổi còn nhỏ nhưng chị đã làm được những công việc nguy hiểm, khó khăn. Khi bị bắt, đối diện với sự tra tấn dã man của kẻ thù nhưng chị nhất quyết không hề khai ra những bí mật của quân ta. Chị đã hi sinh anh dũng và kiên tâm trên chiến trường. Giờ đây, đất nước đã bình yên và lòng dũng cảm của chị luôn được các thế hệ tiếp bước ghi nhận và phát huy mãnh liệt.

Không phải ai trong chúng ta cũng dám dũng cảm vì mỗi người có một tính cách và phẩm chất khác nhau. Có những người rất hèn nhát, không dám thừa nhận những lỗi lầm mà mình đã gây ra, không dám đương đầu với những khó khăn gian khổ, không dám và chẳng bao giờ biết hi sinh vì người khác. Những người như vậy sẽ không gây được thiện cảm với người khác, thành công sẽ không bao giờ đến với bản thân và thậm chí bị người khác coi thường.

Đôi lúc chúng ta hiểu sai về lòng dũng cảm. Nhiều người cho rằng dũng cảm để thể hiện mình. Điều đó là hoàn toàn sai lầm. Nếu chỉ là để thể hiện bản thân thì giá trị của dũng cảm đã mất đi ngay lập tức. Lòng dũng cảm chỉ xuất phát từ chính bản thân mình, muốn thể hiện điều tốt chứ không phải thể hiện mình một cách thái quá, không có điểm dừng.

Là một học sinh, sinh viên chúng ta cần rèn luyện cho mình một lòng dũng cảm thật vững chắc. Tương

lai đang ở phía trước và đồng nghĩa với những khó khăn, thử thách sẽ đến với chúng ta bất cứ lúc nào vì vậy

hãy chuẩn bị cho mình một hành trang vững chắc để bước vào cuộc sống...

Phần II – Câu 2:

  1. Mở bài:

(evan.edu.vn)

Thạch Lam là cây bút văn xuôi xuất sắc của Tự lực văn đoàn. Mặc dù cuộc đời sáng tạo nghệ thuật của Thạch Lam rất ngắn ngủi nhưng nhiều tác phẩm của ông lại có sức sống mạnh mẽ và tồn tại bền vững với thời gian. “Hai đứa trẻ” là một tác phẩm như thế. Tiếp xúc với câu chuyện, người đọc rất ám ảnh và băn khoăn trước cảnh tượng đêm đêm hai đứa trẻ cố thức để đợi chuyến tàu đêm đi qua phố huyện. Khi bàn về truyện ngắn “Hai đứa trẻ”, Nguyễn Tuân đã viết về cảnh tượng này như sau: “Hình ảnh đoàn tàu và tiếng còi tàu đã thành một thói quen của cảm xúc và ước vọng”. Nhận xét đó có thể coi là sự chia sẻ và thấu hiểu với niềm xót thương mà Thạch Lam dành cho những kiếp người nhỏ bé, cơ cực cũng như khẳng định niềm hi vọng, niềm tin bền bỉ của họ.

  1. Một đoạn văn về hình ảnh đoàn tàu là thói quen của ước vọng:

Đoàn tàu hiện ra từ trong bóng đêm đặc quánh với ánh sáng rực rỡ và âm thanh vang dội. Ánh sáng của những toa tàu mạ đồng, của làn khói sáng trắng. Liên và An thích thú nghe “tiếng dồn dập, tiếng rít mạnh vào ghi, tiếng còi” làm khuấy động không gian yên tĩnh. Liên còn dắt em đứng dậy để nhìn đoàn tàu vụt qua và thấy “ánh đèn sáng trưng chiếu rọi xuống đường”. Đoàn tàu rực sáng, vui vẻ, huyên náo và sang trọng. Đoàn tàu tương phản hoàn toàn với phố huyện của bóng tối đặc quánh, của sự im lặng, của những thanh âm đang chìm dần trong vô vọng. Háo hức mong chờ chuyến tàu hàng đêm, Liên và An không phải chờ người thân hay muốn bán thêm ít hàng như lời mẹ dặn mà đằng sau đó là nhiều nguyên nhân sâu xa khác. Với An, đứa em ngây thơ, tội nghiệp của Liên, đoàn tàu là một thứ đồ chơi đẹp đẽ trong tuổi thơ nghèo khó, lam lũ của em. Em đợi tàu là để được chơi, được sống như một đứa trẻ, dù là cuộc chơi nhờ, chơi hờ thiên hạ. Đoàn tàu cũng gợi nhắc đến quá khứ, đến Hà Nội - vầng hào quang của tuổi thơ. Đoàn tàu cho hai đứa trẻ được sống lại trong giây lát những khoảnh khắc, những ngày tháng hạnh phúc, ấm áp, sung túc khi xưa, ngày tháng được đi chơi vô tư, vui vẻ, được uống cốc nước lạnh xanh đỏ. Đợi tàu, với hai chị em còn là đợi những mơ tưởng, mơ tưởng được sống khác đi, được sống sôi động hơn. Đoàn tàu cho Liên và An được mơ ước, khát vọng, tạm phá vỡ cái đặc quánh của bóng tối, hé mở về tương lai, hé mở cho chúng thấy có một thế giới khác ngoài phố huyện, cố thức để đợi tàu là nỗ lực vừa mơ hồ, vừa quyết liệt của Liên và An hướng về một cuộc sống đích thực để ngoi lên khỏi cuộc sống tàn tạ, để không bị nhấn chìm trong ao tù phố huyện, để bứt ra khỏi nhịp sống tẻ ngắt. Chúng không dễ dàng chấp nhận số phận, không dễ dàng thoả hiệp với hoàn cảnh.

Số trang

(Đề thi có 02 trang)

ĐỀ THI THỬ THPTQG NĂM 2020

CHUẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐỀ 06

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh: .......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

  1. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi:

TRUYỆN CỔ NƯỚC MÌNH

Tôi yêu truyện cổ nước tôi Vừa nhân hậu lại tuyệt vời sâu xa Thương người rồi mới thương ta Yêu nhau dù mấy cách xa cũng tìm

Ở hiền thị lại gặp hiền

Người ngay thì gặp người tiên độ trì Mang theo truyện cổ tôi đi

Lâm Thị Mỹ Dạ

Nghe trong cuộc sống thầm thì tiếng xưa

Vàng cơn nắng, trắng cơn mưa

Con song chảy có rặng dừa nghiêng soi

Đời cha ông với đời tôi

Như con sông với chân trời đã xa

Chỉ còn truyện cổ thiết tha Cho tôi nhận mặt ông cha của mình

Rất công bằng, rất thông minh Vừa độ lượng lại đa tình, đa mang. Thị thơm thì giấu người thơm

Chăm làm thì được áo cơm cửa nhà

Đẽo cày theo ý người ta

Sẽ thành khúc gỗ chẳng ra việc gì.

Tôi nghe truyện cổ thầm thì

Lời cha ông dạy cũng vì đời sau.

Đậm đà cái tích trầu cau

Miếng trầu đỏ thắm nặng sâu tình người.

(Theo SGK Tiếng việt lớp 5, tập 2)

Câu 1: Bài thơ gợi nhắc cho anh/chị đến những truyện cổ nào trong kho tàng truyện cổ dân gian của người Việt?

Câu 2:Nhà thơ đã khẳng định những giá trị, ý nghĩa gì của truyện cổ?

Câu 3: Phân tích tác dụng của biện pháp điệp từ trong hai câu thơ”

Thương người rồi mới thương ta Yêu nhau dù mấy cách xa cũng tìm

Câu 4: Những thông điệp mà nhà thơ muốn gửi gắm qua bốn câu thơ cuối là gì?

  1. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm):

Từ nội dung của bài thơ và ý kiến sau của một nhà báo trẻ:

Xét về góc độ nào đó, văn học dân gian không còn phù hợp với thế kỷ 21. Giớ trẻ không còn khái niềm khai thác và tìm hiểu văn học dân gian nữa, học cũng không mặn mà với “sự tiếp nối ưu tú” của những tác giả lớn như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương. Tất nhiên, không ai phủ nhận giá trị của văn học dân gian những cũng phải…thừa nhận, bộ phận văn học này không còn sự tiếp nối như trước kia. (Linh Phương – Văn học dân gian Còn và mất…-suckhoedoisong.vn 23/09/2013), anh/Chị có suy nghĩ về vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân gian của người Việt. Hãy thể hiện suy nghĩ bằng một đoạn văn ngắn khoảng 200 chữ.

Câu 2 (5,0 điểm):

Đêm hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ còn vẳng có tiếng mõ trên vọng canh, một cảnh tượng xưa này chưa từng có, đã bày ra trong một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột phân gián.

Trong một không khí khói lửa như đám cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ. Khói bốc tỏa cay mắt, họ dụi lia lịa.

Một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng phẳng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất từng đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực. Thay bút con, để xong lạc khoản, ông Huấn Cao thở dài, buồn bã đỡ viên quan ngục đứng thẳng người dậy và đĩnh đạc bảo:

- Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét chữ vuông vắn tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người. Thoi mực, thầy mua ở đâu tốt và thơm quá. Thầy có thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không?...Tôi bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở đã, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi.

Lửa đóm cháy rừng rực, lửa rụng xuống nền đất ẩm phòng giam, tàn lửa tắt nghe xèo xèo. Ba người nhìn bức châm, rồi lại nhìn nhau.

Ngục quan cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”.”

(Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân –SGK Ngữ văn 11, tập Một)

Cảm nhận của anh/chị về nhân vật Huấn Cao trong đoạn trích trên. Qua nhân vật đó, Nguyễn Tuân đã thể hiện quan niệm gì về cái Đẹp?

-------------------- HẾT --------------------

Thí sinh không được sử dụng tài liệu! Phụ huynh, thầy cô và đồng đội vui lòng không giải thích gì thêm.

!xin cảm ơn!

CHÚC CÁC EM LÀM BÀI TỐT!

  1. ĐỌC-HIỂU (3,0 điểm)

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

!

Đối với dạng đề yêu cầu phân tích tác dụng cửa biện pháp tu từ trong câu thơ (câu văn), các em cần chú ý:

+ Cần nêu rõ từ hoặc cụm từ có chứa biện pháp tu từ đó (không viết trong bài thi nhưng cần ghi ra giấy

nháp).

+ Căn cứ vào tác dụng chung của biện pháp tu từ đó, căn cứ vào nội dung văn bản và các từ ngữ cụ thể trong câu văn (câu thơ) để nêu tác dụng chính xác nhất.

Câu 1 (0,5 điểm):

Cần kể được ít nhất 2 truyện cổ trong các truyện cổ sau: Sự tích trầu cau, cây tre trăm đốt, Duyên nợ ba sinh, Đẽo cày giữa đường, Tấm cám...

Câu 2 (1,0 điểm):

Giá trị, ý nghĩa của truyện cổ là:

    • Thể hiện truyền thống ân nghĩa, ân tình, vẻ đẹp tâm hồn của người Việt Nam.

    • Chứa đựng những lời khuyên, lời răn dạy của ông cha, những bài học nhân sinh sâu sắc.

    • Là một nguồn tư liệu quý báu để thế hệ sau hiểu về truyền thống, về ông cha mình.

Câu 3 (0,5 điểm):

Tác dụng:

Nhấn mạnh, khẳng định truyền thống tương thân, tương ái, giàu lòng yêu thương của con người Việt

Nam từ ngàn xưa.

Câu 4 (1,0 điểm):

Cần nêu ra ít nhất hai thông điệp, đảm bảo tính hợp lí và thuyết phục. Gợi ý:

    • Thế hệ sau cần trân trọng, lắng nghe lời dạy của cha ông, đó là vốn trí tuệ quý báu của dân tộc.

    • Cần giữ gìn truyền thống ân tình, thủy chung của người Việt, phát huy truyền thống đó trong thời kì hội nhập.

    • Cần biết giữ gìn và phát huy những giá trị mà truyện cổ để lại cho thế hệ hiện tại bởi mỗi câu chuyện đều là

những viên ngọc quý kết tinh đời sống tâm hồn của cha ông trong quá khứ.

  1. LÀM VĂN (7,0 điểm):

Câu 1 (2,0 điểm):

!

Đối với dạng để trình bày suy nghĩ từ một vấn đề gọi ra từ nội dung của văn bản và một quan điểm, ý kiến (hoặc một hiện tượng) ngoài văn bản, các em cần chú ý:

    • Quan điểm, ý kiến ngoài văn bản thường đóng vai trò bổ sung, bổ trợ, gợi ý cho vấn đề nghị luận. Có thể

coi nó sẽ đóng vai trò là một luận điểm.

    • Bài học liên hệ thực tế cần căn cứ trên cả vấn đề nghị luận và quan điểm, ý kiến ngoài văn bản.

  1. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn (0,25 điểm)

Có thể trình bày đoạn văn theo nhiều cách: diễn dịch, quy nạp, móc xích, song hành…

  1. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận(0,25 điểm):

Vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân gian của người Việt.

  1. Triển khai vấn đề nghị luận (1,0 điểm):

Có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng cần làm rõ được ý nghĩa, giá trị của việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân gian của nguời Việt Nam. Có thể theo hướng sau:

    • Văn hóa dân gian của người Việt là một kho tàng đa dạng, phong phú, có giá trị cao, được lưu giữ từ bao đời này. Tuy nhiên, do sự phát triển của xã hội, do hoạt động giao lưu văn hóa mà hiện này, nhiều di sản văn hóa dân gian bị quên lãng, không được phát huy (dẫn chứng)

    • Bởi thể, mỗi con người cần có ý thức và có hành động thiết thực để bảo vệ, giữ gìn vốn văn hóa dân gian

(dẫn chứng).

    • Phê phán, lên án những hành vi xâm phạm, lợi dụng, làm tốn hại văn hóa dân gian. (dẫn chứng); Kết họp bảo vệ văn hóa truyền thống và tiếp thu, học tập tinh hoa văn hóa nước ngoài…

    • Liên hệ bản thân: là một công dân trẻ tuổi, anh/chị đã làm gì để bảo tồn văn hóa dân gian truyền thống (có ý thức tìm hiểu văn hóa dân gian, nỗ lực rèn luyện ngoại ngữ để quảng bá văn hóa dân gian Việt Nam đối với bạn bè thế giới)

  1. Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,25 điểm):

Đảm bảo chuẩn chính ta, ngữ pháp, ngữ nghĩa Tiếng Việt

  1. Sáng tạo (0,25 điểm):

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

Câu 2 (5,0 điểm):

!

Đối với dạng đề phân tích nhân vật trong một đoạn trích văn xuôi, cần chú ý:

    • Giới thiệu nhân vật và đoạn trích trong phần mở bài.

    • Nêu được vị trí của đoạn trích trong phần thân bài, từ đó nhìn nhận giá trị của đoạn trích trong chỉnh thể tác

phẩm.

    • Xác định đặc điểm của nhân vật đó trong tác phẩm, lấy đó làm căn cứ để xác định đặc điểm của nhân vật

trong đoạn trích.

    • Chú ý đến yêu cầu thứ hai trong đề bài (ở đây là Quan niệm về cái đẹp của Nguyễn Tuân), tránh bỏ sót do

cuối bài thường bị thiếu thời gian làm bài.

  1. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận (0,25 điểm):

Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết bài. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tó vấn đề;

phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân.

  1. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm):

Vẽ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao qua đoạn trích và quan niệm về cái đẹp của Nguyễn Tuân..

  1. Triển khai vấn đề nghị luận:

Cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp dẫn chứng và lí lẽ.

    1. Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm (0,5 điểm):

Nguyễn Tuân là nhà văn lãng mạn có phong cách tài hoa, độc đáo. Ông tự nhận mình là người suốt đời đi tìm và phụng sự cái Đẹp. “Chữ người tử tù” là tác phẩm tiêu biết cho phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân, là tác phẩm tiêu biết của tập truyện “Vang bóng một thời”/ Truyện ngắn là cái nhìn về những nhà Nho khi Hán học đã suy tàn để khẳng định những giá trị trường tồn của Nho học.

    1. Cảm nhận về nhân vật Huấn Cao qua đoạn trích (2,0 điểm):

CHÚ Ý

Nhân vật Huấn Cao qua đoạn trích.

    • Hoàn cảnh xuất hiện: trong không gian buồng giam tăm tối, thời gian lúc nửa đêm.

    • Hành động của nhân vật: viết chữ. Từ đó, hiện lên nhiều phẩm chất tốt đẹp: một người nghệ sĩ tài hoa, một

anh hùng với khí phách hào hùng, một con người với thiên lương trong sáng…

    • Nghệ thuật xây dựng nhân vật: ngôn ngữ trang trọng, thủ pháp đối lập…

    • Giới thiệu khái quát về nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm “Chữ người tử tù”:

+ Huấn Cao là nhân vật trung tâm của thiên truyện.

+ Cũng giống như nhiều nhân vật trong “Vang bóng một thời”. Huấn Cao là một nhân vật đặc tuyển, nhân vật của những người muôn năm cũ còn sót lại trong xã hội Tây Tàu nhố nhăng làm sai lạc đi bao nhiêu giá trị cổ truyền. Bản thân Huấn Cao là hiện thân cho giá trị đó, những giá trị chỉ còn vang bóng.

+ Huấn Cao xuất hiện trong truyện với nhiều tư cách, và mỗi từ cách gắn với một quan niệm nhất định của Nguyễn Tuân về cái Đẹp. Từ phương diện triều đình phong kiến, Huấn Cao là kẻ tạo phản, phạm tội khi quân nhưng trong quan niệm của người dân đói khổ, Huấn Cao là người anh hùng chống áp bức, bất công. Khi bị bắt vào nhà giam, Huấn Cao vừa hiện diện với tư cách của một người tử tù, đợi ngày ra pháp trường, lại vừa là người nghệ sĩ sáng tạo ra cái Đẹp. Ông chính là hiện thân của cái Đẹp thức tỉnh và cảm hóa con người.

    • Nhân vật Huấn Cao qua đoạn trích:

+ Nhân vật Huấn Cao được khắc họa trong một hoàn cảnh đặc biệt:

++ Không gian: Tại buồng giam bẩn thỉu, tăm tối, tường đầy mạng nhện, mặt đất đầy phân chuột,

phân gián, ẩm thấp, hôi thối, ngoài trời tối đen như mực.

++ Thời gian: lúc nữa đêm, đêm cuối trong cuộc đời Huấn Cao, ngày mai ông sẽ ra pháp trường chịu

án chém.

Một tử tù, một cong người có số phận bất hạnh, đang sống những giờ phút cuối đời.

+ Nhân vật Huấn Cao được khắc học gắn với hành động sáng tạo: viết chữ. Từ đó, nhân vật hiện lên với

nhiều phẩm chất tốt đẹp:

++ Một người nghệ sĩ với tài hoa viết chữ: từng con chữ vuông vắn hiện ra trên vuông lụa trắng, thể hiện hoài bão tung hoành của một đời người. Đó thực sự là một tác phẩm nghệ thuật ngời sáng dưới ánh sáng

của ngọn đuốc. Đó là báu vật mà Huấn Cao tặng lại cho tri kỉ.

++ Một người anh hùng với khí phách hào hùng “tư thế hiên ngang, phong thái ung dung dù đang bị giam cầm: Người nghệ sĩ trổ tài viết chữ trong khi “cổ đeo gông, chân vướng xiềng”, bị cầm tù, đày đọa về thể xác. Nhưng dường như ông tự do về tinh thần, ông say mê sáng tạo, tâm hồn ông cất cánh cùng những nguyện ước gửi vào trong nét chữ).

++ Một con người với thiên lương trong sáng (Thái độ trân trọng và lời khuyên chân thành với quản ngục, giữ vững khí tiết mọi hoàn cảnh: Khi Huấn Cao, quản ngục và thầy thơ lại cùng nhìn dòng chữ đã viết xong, Huấn Cao dặn dò quản ngục “Ở đây lẫn lộn…” – lời dặn dò bằng tất cả tấm lòng và sự trân trọng. Trước lời khuyên chân tình đó, quản ngục cảm động vái lạy từ nhân như một kẻ lầm lạc vái lạy người chỉ lối chính nghĩa cho mình. Hành động bái lạy đó là giá trị nhân văn mà dòng chữ mang lại đồng thời khẳng định sức mạnh của cái Đẹp, sự thăng hoa của tài năng ở mức tuyệt đỉnh).

    • Nghệ thuật xây dựng nhân vật:

+ Ngôn ngữ trang trọng, cổ kính thể hiện qua nhiều từ cổ cách xưng hô.

+ Sự đối lập giữa cảnh vật, đồ vật, màu sắc, âm thanh…một cách gay gắt càng làm nổi rõ bức tranh bi hùng này.

+ Từng câu, từng chữ đều trang trọng, góc cạnh như chạm, như khắc, đầy chất tạo hình, nhịp văn chậm

rãi, không khí thiêng liêng, bi tráng.

    1. Quan niệm về cái đẹp của Nguyễn Tuân qua nhân vật Huấn Cao (0,5 điểm):

CHÚ Ý

Quan niệm về cái Đẹp của Nguyễn Tuân: cái Đẹp chiến thắng cái ác, cái Đẹp có sức mạnh cảm hóa, cái Đẹp

là giá trị bất tử.

    • Cái Đẹp chiến thắng cái ác:

+ Cái Đẹp đã ra đời ngay trong trại giam, ngay trong môi trường tội lỗi, xấu xa và dơ bẩn của cái ác.

+ Một người như quản ngục, vì vẫn còn lòng yêu cái Đẹp nên dù giữa chốn xấu xa nhơ bẩn vẫn có khả năng hướng thiện. Tư tưởng của Nguyễn Tuân đã gặp gỡ với Dottoiepxki – nhà văn Nga vĩ đại thế kỉ XIX. Sự chiến thắng của tài hoa, thiên lương, của khí phách trước tàn bạo, bẩn thỉu là một chiến thắng đầy ngoạn mục và phi thường.

    • Cái đẹp có sức mạnh chinh phục và cảm hóa: Người đã làm cho thế giới của cái Thiện lên ngôi chính là Huấn Cao. Tác giả đã khép lại câu chuyện bằng hành động cúi đầu xi bái lĩnh của quản ngục. Đó là bằng chứng rõ nhất về sức mạnh cảm hóa của thiên lượng ở Huấn Cao. Cái Đẹp mà ông để lại không chỉ là di vật, là vật báu mà còn có sức mạnh cứu rỗi.

    • Cái Đẹp là bất tử dù người sáng tạo ra cái đẹp có cuộc đời ngắn ngủi: Huấn Cao sẽ bị chém đầu nhưng những dòng chữ ông để lại sẽ luôn nhắc nhở về ông, sẽ luôn được gìn giữ như một báu vật.

    1. Đánh giá chung (0,5 điểm):

    • Đoạn trích đã khắc họa vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao, thể hiện tài năng nghệ thuật của Nguyễn Tuân.

    • Vẻ đẹp đó đã góp phần làm nên “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”, thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc của

câu chuyện.

  1. Chỉnh tả, dùng từ, đặt câu (0,25 điểm):

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa Tiếng Việt.

  1. Sáng tạo (0,5 điểm):

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

Phần II – Câu 1:

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống ở Việt Nam trước tác động của toàn cầu hóa

Cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức, toàn cầu hóa đã trở thành xu thế khách quan, có tác động mạnh mẽ không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, mà còn ở các lĩnh vực chính trị, xã hội và văn hóa. Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia; xu thế này…vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh”(1).

Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, văn hóa Việt Nam có cơ hội hội nhập và giao lưu với các nền văn hóa khác của thế giới để làm giàu và khẳng định bản sắc của mình. Song, hơn lúc nào hết, đây cũng là giai đoạn mà các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc phải đối diện với những tác động tiêu cực của toàn cầu hóa. Hội nhập quốc tế đang là một nhu cầu khách quan, nó đòi hỏi chúng ta phải mở cửa, giao lưu với cộng đồng thế giới để đón nhận và tiếp thu những giá trị mới, tiến bộ của nhân loại. Tuy nhiên, một dân tộc nào đó sẽ không còn là chính mình nếu đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc. Theo đó, hội nhập, một dân tộc nào đó sẽ không còn là chính mình nếu đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc. Theo đó, hội nhập quốc tế và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là những nhu cầu tất yếu, khách quan để một dân tộc có thể tồn tại và phát triển trong xu thế toàn cầu hóa. Hội nhập quốc tế và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là hai mặt thống nhất, có quan hệ chặt chẽ với nhau. Vì vậy, đối với Việt Nam, việc nhận thức rõ vấn đề này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo tồn, phát huy giá trị truyền thống dân tộc nói riêng và phát triển đất nước nói chung.

Xét từ phương diện văn hóa, toàn cầu hóa đang tác động mạnh mẽ tới những giá trị truyền thống tốt đẹp – cái làm nên bản sắc văn hóa riêng của tất cả các dân tộc, trong đó có dân tộc Việt Nam. Sự tác động này là rất phức tạp, một mặt, nó tạo điều kiện thuận lợi cho các dân tộc hình thành và phát triển những giá trị văn hóa mới; mặt khác, nó chứa đựng nguy cơ phá vỡ hoặc làm bang hoại những giá trị văn hóa truyền thống đã được tích tụ và tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc

Thật vậy, những mặt trái, những tác động tiêu cực của toàn cầu hóa đã và đang làm chao đảo nhiều giá trị tinh thần nói chung, nhân cách con người nói riêng. Đặc biệt, một số giá trị đạo đức tốt đẹp, thiêng liêng…vốn có vị trị quan trọng trong hệ giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam đang có nguy cơ bị mai một và tha hóa. Chẳng hạn, lối sống tình nghĩa, đậm chất nhân văn kiểu “thương người như thể thương thân”. “một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”…vốn là một trong những giá trị đạo đức truyền thống của nền văn hóa làng xã Việt Nam đã từng tồn tại hàng ngàn năm nay đang bị mai một, mờ nhạt dần. Ở không ít nơi, cả thành thị lần nông thôn, một bộ phận dân cư đã chịu ảnh hưởng của lối sống ích kỷ, hẹp hòi, lấy lối sống theo kiểu “đèn nhà ai nấy rạng” thay cho lối sống rất “con người” trước đây. Không phải ngẫu nhiên mà có ý kiến cho rằng, đạo đức ở một bộ phận nhân dân, đặc biệt là tầng lớp thanh, thiếu niên đang có xu hướng “trượt dốc”. Đây thực sự là những tín hiệu “báo động đỏ” trong đời sống đạo đức ở nước ta hiện nay.

Theo đó, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa hiện này là một yêu cầu tất yếu, một nhiệm vụ nặng nề, cấp bách và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với chúng ta. Kinh nghiệm của nhiều nước, cũng như của chính chúng ta đã chỉ ra rằng, không thể đánh đổi bằng mọi giá để có được sự tăng trưởng kinh tế, cũng không thể để cho bản sắc văn hóa dân tộc bị mai một. Để

tiếp tục phát triển và khẳng định mình trong quá trình toàn cầu hóa, ngoài nỗ lực tăng trưởng kinh tế, một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng của chúng ta là phải xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đúng như Đảng ta đã khẳng định, “Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ quốc; lòng nhân ái; khoan dung; trọng tình nghĩa, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống…Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét cả trong hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo” (4). Chính nhờ sức mạnh của những giá trị truyền thống đó mà dân tộc ta đã vượt qua biết bao thử thách khắc nghiệt, chiến thắng thiên tai, địch họa để tồn tại và phát triển được như ngày nay. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc trước hết là bảo vệ, kế thừa và phát triển những giá trị tinh thần cao đẹp đó.

(…)

Phần II – Câu 2:

(TS Nguyễn Đình Tường – philosophy.vas.gov.vn 16/11/2015)

Hình ảnh Huấn Cao trong cảnh cho chữ

Người nghệ sĩ trổ tài viết chữ trong khi “cổ đeo gông, chân vướng xiềng”, bị cầm tù, đày đọa về thể xác. Nhưng dường như ông tự do về tinh thần, ông say mê sáng tạo, tâm hồn ông cất cánh cùng những nguyện ước gửi vào trong nét chữ. Mỗi cử chỉ của ông đều xúc động, đều mang một chút hương của thiên lương cao cả. Phòng giam thành chốn linh thiêng, thanh tĩnh. Hình ảnh người từ nổi bật lên, uy nghi lồng lộng trong tư thế răn dạy, còn quản ngục và thơ lại – những kẻ đại diện cho trật tự xã hội lại khúm núm bên cạnh người tù, vái lạy tù nhân. Một sự đảo lộn ngôi thứ, trật tự chưa từng có. Điều đó cho thấy rằng, trong nhà tù tăm tối – hiện thân của tội ác tàn bạo – không phải cái xấu, cái ác đang thống trị mà chính là cái Đẹp, cái cao cả đang làm chủ. Với cảnh cho chữ này, nhà ngục tăm tối đó sụp đổ, chỉ có người nghệ sĩ tài hoa đang sáng tạo cái Đẹp trước đôi mắt ngưỡng mộ, sung kính của kẻ liên tài, tất cả đều tắm đẫm trong ánh sáng thuần khiết của cái đẹp thiên lương, và khí phách. Cái Đẹp đó ra đời ở nơi tăm tối nhất, thiên lương đó tỏa sáng ở nơi mà cái ác đang ngự trị. Với cảnh này, không phải Huấn Cao sắp chết mà chính ông đang đi vào cõi bất tử. Đời thất thế của ông đã lóe sáng trước khi tàn và hơn thế nó đã kịp được vĩnh cửu hóa ở những dòng chữ “vuông vắn, nói lên hoài bão tung hoành của đời người”, ở lòng những người như quản ngục.

Và những lời di huấn của ông với quản ngục cũng bất tử. Đây có thể coi là những lời răn dạy về đạo lí trong thời vàng thau lẫn lộn. Ông không chấp nhận cái đẹp chung sống với cái ác, cái xấu, không chấp nhận người yêu cái đẹp vẫn làm điều ác. Ông khuyên quản ngục thay “chốn ở” đi vì ông cho rằng muốn đến với các đẹp thì phải sống cho lương thiện, muốn chơi chữ đẹp thì phải lánh xa nơi tàn bạo xấu xa, giữ cho thiên lương lành vững và để không nhem nhuốc mất cả cái đời lương thiện đi. Đó cũng là quan niệm của Nguyễn Tuân, cái đẹp gắn liền với cái thiện, người nghệ sĩ say mê cái Đẹp trước hết phải có thiên lương, có cái tâm trong sáng. Di huấn thiêng liêng đó của ông Huấn Cao được quản ngục lắng nghe và cúi đầu “xin bái lĩnh”. Đấy chính là tư thế cúi đầu trước hoa mai như tâm nguyện của Cao Bá Quát “ Nhất sinh đê thủ bái mai hoa”. Cái cúi đầu đó cũng cho thấy sức mạnh cảm hóa một con người lầm lạc, cam chịu của nhân cách Huấn Cao, của những dòng chữ đầy chí khí.

Số trang

(Đề thi có 02 trang)

ĐỀ THI THỬ THPTQG NĂM 2020

CHUẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐỀ 07

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh: .......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

  1. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi:

    1. ... Với lợi thế của người đi sau, chúng ta đã nhìn rõ những cơ hội và thách thức trong các tổ chức hợp tác với các nước láng giềng, khu vực và tổ chức toàn cầu như APEC, đặc biệt là WTO. Với vị thế và thương hiệu mới, lập tức nền kinh tế đất nước đã có những tín hiệu chuyển động mạnh mẽ...Nhịp điệu mới, tốc độ mới có thể sẽ đạt được cao hơn mục tiêu đề ra, thậm chí ở một số khu vực, bộ phận có thể trở thành nóng.

    2. Với “lợi thế người đi sau”, chủng ta ứng phó, giải quyết thế nào với tốc độ nóng của phát triển để thực hiện đúng mục tiêu phát triển nhanh và bền vững? Thực tế cho thấy, trong những năm qua, với tốc độ tăng trưởng chỉ trên 7% hàng năm nhưng quá nhiều vấn đề tiêu cực của kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường xảy ra. Sự nóng lên khá đột ngột của thị trường chứng khoản cho đến thời điểm này nói chung vẫn là tín hiệu tích cực về kinh tế nhưng về xã hội, những biểu hiện không thuận đã nhìn thấy được trong hiệu ứng nới rộng khoảng cách giàu-nghèo. Cùng với biểu hiện không thuận này, những tệ nạn đầu cơ, buôn lậu, gian lận thương mại, quan liêu, tham nhũng đang hoành hành đã làm cho một bộ phận xã hội giàu nhanh hẳn lên, cả chính đáng và không chính đáng, về hình thức dân giàu thì nước mạnh nhưng dân giàu mà không minh bạch, không kiếm soát được, không huy động được sự giàu có trong dân vào mục đích chung phát triển kinh tế-xã hội thì lại có tác động ngược lại (...)

    3. Thực tế đất nước hiện nay cũng đã nóng lên với rất nhiều báo động về sự trì trệ, lạc hậu của lề lối hành chính, về sự yếu kém đầy rủi ro trong giao thông, sự lạc hậu gắn với nhiều căn bệnh trong giáo dục, y tế, những báo động của ô nhiễm môi trường từ thành thị đến nông thôn, sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên rừng, sông suối và biển...

    4. Từ “lợi thế người đi sau”, chủng ta không chỉ học người ở cách làm giàu mà luôn phải tỉnh táo lường định trước, phải đầu tư nghiên cứu học hỏi để đề ra những biện pháp hữu hiệu phòng và chống, ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục những tiêu cực, rủi ro, đỗ vỡ trong cả kinh tế, xã hội và văn hóa.

(Nguyễn Mạnh - báo Quân đội nhân dân 03/03/2007)

Câu 1: Đặt một nhan đề phù hợp với nội dung đoạn văn bản.

Câu 2: Căn cứ vào nội dung đoạn văn và hiểu biết thực tế, anh/ chị hãy giải thích thế nào là “lợi thế người đi

sau”?

Câu 3: Đọc kĩ đoạn văn (2) và cho biết đoạn văn được viết theo phương thức nào?

Câu 4: Bài học mà anh/chị rút ra được khi nhìn nhận những thuận lợi và thách thức trong “Lợi thế người đi

sau”?

  1. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm): Hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) thể hiện suy nghĩ của anh/chị về vai trò của

tinh thần học hỏi trong bối cản của sự tăng trưởng mạnh mẽ về kinh tế - xã hội hiện nay.

Câu 2 (5,0 điểm): Viết về phẩm chất và tấm lòng của nhân vật viên quản ngục trong “hoàn cảnh đề lao”

tăm tối, Nguyễn Tuân đã khẳng định đó là “một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ ” (Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân - SGK Ngữ văn 11 tập Một). Qua cảm nhận về nhân vật này trong tác phẩm “Chữ người tử tù”, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên?

-------------------- HẾT --------------------

Thí sinh không được sử dụng tài liệu! Phụ huynh, thầy cô và đồng đội vui lòng không giải thích gì thêm.

!xin cảm ơn!

CHÚC CÁC EM LÀM BÀI TỐT!

  1. ĐỌC-HIỂU (3,0 điểm)

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

!

Đối với dạng câu hỏi yêu cầu đặt nhan đề cho nội dung đoạn văn bản, các em cần tiến hành các bước như

sau:

    • Tìm các từ ngữ chủ đề (từ, cụm từ lặp đi lặp lại), câu chủ đề, từ đó xác định khái quát nội dung của văn bản.

    • Căn cứ vào nội dung khái quát đó, lựa chọn một nhan đề phù hợp, có chứa thông tin chính nhưng

không quá dài.

Câu 1 (0,5 điểm):

Học sinh đặt được nhan đề phù hợp, căn cứ theo nội dung đoạn văn.

Một số nhan đề gợi ý: Lợi thế người đi sau ở nước ta; Lợi thế người đi sau: cơ hội và thách thức; Những vấn đề đặt ra từ lợi thế người đi sau...

Câu 2 (1,0 điểm):

Học sinh cần đọc kĩ văn bản kết hợp cùng hiểu biết thực tế về đời sống kinh tế - xã hội hiện nay để trả

lời.

Lợi thế người đi sau: chỉ những thuận lợi, những bài học bổ ích có được dựa trên sự học hỏi kinh nghiệm

thành công và thất bại của những người làm trước hoặc những công ty, những quốc gia phát triển trước.

Câu 3 (0,5 điểm):

Đoạn văn được viết theo phương thức diễn dịch (câu chủ đề nằm ở đầu của đoạn văn).

Câu 4 (1,0 điểm):

Học sinh có thể đưa ra quan điểm riêng của bản thân, cần đảm bảo tính lo-gic và hợp lí. Gợi ý:

    • Cần nỗ lực cố gắng phát triển để tận dụng những kinh nghiệm của lợi thế người đi sau.

    • Cần cân đối giữa việc phát triển kinh tế - xã hội với sự ổn định của an ninh, trật tự xã hội.

    • Mỗi người dân cần có ý thức đóng góp vào mục đích chung là phát triển kinh tế xã hội.

!

Một số tấm gương về tinh thần học hỏi trong xã hội hiện nay:

    • Trần Thị Diệu Liên sinh ra trong gia đình nghèo khó, ở trong căn nhà xập xệ rộng chưa tới 20 m2. Liên từng học chuyên Anh trường Lê Hồng Phong -TP Hồ Chí Minh. Sau khi đỗ ngành khoa học của một trường đại học, Liên bảo lưu một học kỳ để theo đuổi học bổng du học. Tháng 4, Liên nhận được gói hỗ trợ tài chính suốt 4 năm học trị giá 7 tỷ đồng của Đại học Harvard.

    • Chảo Thị Yến (Bát Xát, Lào Cai) người dân tộc Dao. Hết lớp 9, cô phải nghỉ học để đi làm nương. Sau ba năm thuyết phục người nhà, cuối cùng Yến được đi học cấp ba với ước mơ làm cô giáo. Tuy nhiên, trận lũ lịch sử năm 2008 khiến cô chọn Đại học Lâm nghiệp là bởi khao khát tìm cách giữ rừng, hạn chế lũ.

Cô vừa đi làm vừa tiếp tục gửi hồ sơ xin học bổng và đến tháng 3 cô đã trúng học bổng thạc sĩ ngành

Quản lý tài nguyên rừng bền vững tại Đại học Gottingen, Đức.

  1. LÀM VĂN (7,0 điểm):

Câu 1 (2,0 điểm):

!

Khi gặp dạng đề nghị luận xã hội về vấn đề có tính chất khá quen thuộc (ở đây là tinh thần học hỏi), các em

cần chú ý:

    • Tránh thái độ chủ quan.

    • Đọc kĩ, xem xét kĩ yêu cắu của đề. Bởi vấn đề đưa ra có thể quen thuộc nhưng thông thường đều có tính chất cập nhật, gắn với đời sống hiện đại (ở đây là: học hỏi - gắn với bối cảnh sự phát triển kinh tế mạnh mẽ).

Nên chú ý xây dựng luận điểm có tính sáng tạo, đảm bảo được tính chất cập nhật đó.

  1. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn (0,25 điểm)

Có thể trình bày đoạn văn theo nhiều cách: diễn dịch, quy nạp, móc xích, song hành...

  1. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận(0,25 điểm):

Vai trò, giá trị của tinh thần học hỏi đặt trong bối cảnh kinh tế xã hội đang có sự phát triển mạnh mẽ.

  1. Triển khai vấn đề nghị luận (1,0 điểm):

Có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng cần làm rõ được vai trò quan trọng của tinh thần học hỏi trong bối cảnh sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế xã hội. Có thể theo hướng sau:

    • Giải thích: Học hỏi là quá trình tiếp thu tri thức từ sách vở, từ cuộc sống, từ các mối quan hệ, từ những người xung quanh. Quá trình học hỏi diễn ra lâu dài, bền bỉ.

Đời sống xã hội, nền kinh tế hiện nay đều đang trong quá trình tăng trưởng mạnh mẽ, tạo ra nhiều cơ hội và cũng nhiều thách thức. Tinh thần học hỏi có vai trò vô cùng quan trọng, cần thiết, giúp mỗi người thích nghi với sự phát triển của xã hội, tận dụng cơ hội. để phát triển cá nhân cũng như góp phần vào sự ổn định và phồn thịnh của cộng đồng. Học phải đi đôi với hỏi để biến tri thức thực sự thành của mình chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụ động.

    • Nếu không chịu học hỏi thì sớm muộn cũng sẽ tụt hậu và bị đào thải khỏi xã hội hiện đại.

    • Liên hệ, rút ra bài học thiết thực cho bản thân: không ngừng học hỏi, chuẩn bị hành trang cho tương

lai...

  1. Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,25 điểm):

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa Tiếng Việt.

  1. Sáng tạo (0,25 điểm):

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

Câu 2 (5,0 điểm)

!

Đối với dạng đề nghị luận về một nhân vật để minh chứng cho một ý kiến của nhà văn viết nên tác phẩm, các em cần chú ý:

    • Khi giải thích ý kiến nên xuất phát từ nội dung tác phẩm, gắn ý kiến đó vào chỉnh thể tác phẩm để

khái quát nội dung của ý kiến chính xác nhất.

    • Phân tích nhân vật bám sát nội dung của ý kiến, đặc biệt chú ý đến hình ảnh của nhân vật trong đoạn văn có xuất hiện ý kiến.

  1. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận (0,25 điểm):

Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết bài. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề;

phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân.

  1. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm):

Cảm nhận về nhân vật quản ngục trong tác phẩm “Chữ người tử tù” để làm sáng tỏ cho một quan niệm của chính nhà văn về nhân vật.

  1. Triển khai vấn đề nghị luận:

Cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp dẫn chứng và lí lẽ.

    1. Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm (0,5 điểm):

Nguyễn Tuân sinh ra trong một gia đình Nhà nho khi Hán học đã suy tàn. Ông là một trí thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc, đặc biệt gắn bó với các giá trị văn hóa cổ truyền, là một nhà văn có phong cách tài hoa và độc đáo. “Chữ người tử tù” là tác phẩm tiêu biểu cho đời văn của Nguyễn Tuân. Tác phẩm đã thông qua bộ đôi nhân vật Huấn Cao – quản ngục để thể hiện quan niệm riêng biệt của Nguyễn Tuân về cái Đẹp.

    1. Giải thích ý kiến (0,5 điểm)

      • Giải thích: “Thanh âm trong trẻo”: hình ảnh ẩn dụ chỉ một tâm hồn trong sáng, phẩm chất cao đẹp, sự hướng thiện. “Bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ”: hình ảnh ẩn dụ chỉ chốn nhà lao tăm tối, rộng hơn đó là môi trường xã hội xấu xa, tàn ác.

      • Ý kiến đã khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của quản ngục trong hoàn cảnh nhà ngục đầy rẫy tội ác, trong hoàn cảnh xã hội suy đồi, bất lương.

    2. Phân tích cảnh đợi tàu để chứng minh cho ý kiến (2,0 điểm):

CHÚ Ý

Phân tích nhân vật quản ngục để làm sáng tỏ ý kiến:

      • Giải thích: sự đối lập thanh âm trong trẻo > < bản đàn mà nhạc luật hỗn loạn, xô bồ.

Nhân vật quản ngục:

+ Cảnh ngộ và địa vị xã hội của nhân vật: hoàn cảnh sống trong đề lao tăm tối, môi trường đầy tội ác.

+ Tấm lòng, phẩm chất của nhân vật: sự cô độc, lẻ loi; tình yêu cái Đẹp, sự trân trọng với cái Đẹp; con người biết hối hận, có thiên lương trong sáng.

+ Ý nghĩa của hình tượng nhân vật quản ngục: thể hiện niềm tin vào sự lương thiện của con người; góp phần thể hiện quan niệm về cái Đẹp của Nguyễn Tuân.

      • Khái quát về nhân vật quản ngục: Nhân vật quản ngục nằm trong bộ đôi nhân vật đặc tuyển của Nguyễn Tuân trước Cách mạng. Nếu Huấn Cao là nhân vật sáng tạo ra cái Đẹp, là hiện thân của nghệ sĩ thì quản ngục là người thưởng thức cái Đẹp - con người đốn ngộ. Với nhân vật quản ngục, người đọc hiểu thêm về kiểu nhân vật không trùng khít, kiểu nhân vật đã tư cách và mỗi tư cách gắn với một tính cách khác nhau. Thế nên không thể không nhắc đến quản ngục khi nhắc đến Huấn Cao và ngược lại.

      • Cảnh ngộ và địa vị xã hội của nhân vật: là một mắt xích trong bộ máy thống trị đương thời, đã nhiều năm làm nghề quản ngục trong trại giam - môi trường của những cái xấu, cái ác, cặn bã của xã hội. Hằng ngày ông sống giữa gông xiềng tội ác, phải chứng kiến bao điều tàn nhẫn, lừa lọc giữa một đống cặn bã, giữa lũ quay quắt. Cảnh sống ấy dễ dìm chết con người, dễ đẩy con người vào bùn nhơ. Là quản ngục, nhưng ông ta cũng chính là tù nhân chung thân của cái nhà tù do ông cai quản. Cái danh, cái lợi, trách nhiệm, bổn phận của một ngục quan là những thứ gông cùm, xiềng xích vô hình xiết chặt tâm hồn quản ngục suốt đời.

      • Tấm lòng, phẩm chất của nhân vật - thanh âm trong trẻo:

+ Hình ảnh của ông ngay từ đầu câu chuyện đã mang dáng vẻ của sự lẻ loi: mái tóc hoa râm, râu ngả màu, bộ mặt tư lự, dáng vẻ trầm tư bên ánh đèn leo lét. Rất nhiều lúc, ngục quan thấm thìa thân phận lạc loài, cô đơn giữa chốn tù ngục của chính mình, ông đã phải than thở một mình: “Có lẽ lão bát này, cũng là một người khá đây. Có lẽ hắn cũng như mình, chọn nhầm nghề mất rồi”.

+ Ông là người yêu cái đẹp, trân trọng cái đẹp:

++ Ngay từ hồi trẻ, ông đã có thú chơi thanh cao tao nhã: chơi chữ nghệ thuật. Sở thích cao quý này đối lập một cách dữ dội với công việc và hoàn cảnh sống của ông, cho thấy ông là người biết trân trọng những giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc.

++ Ngưỡng mộ, trân trọng Huấn Cao - người nổi tiếng viết chữ đẹp: Khi tiếp nhận công văn giải tử tù vào kinh chịu án chém, viên quản ngục đã đau đớn đến tái nhợt người đi. “Một buổi chiều lạnh, viên quản ngục tái nhợt người đi sau khi tiếp đọc công văn. Quan hình bộ thượng thư trong kinh bắt giải ông Huấn Cao và những người bạn đồng chí của ông vào kinh. Pháp trường lập ở trong ấy kia. Ngày mai, tỉnh mơ, sẽ có người đến giải tù đi”. Viên quản ngục thực sự đã rơi vào một tình huống bế tắc và tuyệt vọng. Một tài năng hiếm có, một nhân cách cao quý được ông trân trọng, kính yêu và nâng niu từng giờ khắc đã sắp phải từ giã cõi đời, sắp phải chấm dứt cuộc đời đầy hoài bão tung hoành và khí phách hiên ngang bất khuất.

++ Ông khao khát có được chữ Huấn Cao. Tâm hồn trong sáng và sở nguyện cao quý của ông (một ngày nào đó được treo chữ của Huấn Cao trong nhà riêng) đã làm dịu thái độ ngông ngạo, kiêu bạc của Huấn Cao đối với ông và đã khiến Huấn Cao xúc động mà cho chữ, coi ông như một tri kỉ tri âm không hẹn mà gặp trong cuộc nhân sinh rộng lớn này.

+ Ông cũng là người can đảm vượt lên hoàn cảnh: bất chấp nguy hiểm biệt đãi Huấn Cao, biệt đãi những người bạn đồng chí của Huấn Cao. Việc làm này có thể khiến quản ngục phải trả giá đắt nhưng ông vẫn kiên quyết thực hiện với mong mỏi những ngày cuối đời, Huấn Cao được sống tươm tất nhất.

+ Đáng quý nhất, quản ngục là con người biết hối hận, biểu hiện của thiên lương trong sáng: Huấn Cao không chỉ cho chữ mà còn coi viên quản ngục là tri kỉ, tri âm, còn tặng quản ngục những lời khuyên chân thành, giàu ý nghĩa. Viên quản ngục đón nhận tấm lòng ấy một cách thành kính, khúm núm, lắng nghe những lời khuyên của người mình tôn thờ bấy lâu như lĩnh nhận những di huấn thiêng liêng. Dòng nước mắt của sự xúc động và sự hối hận trào ra trên khóe mắt. Cái khúm núm bái lạy và dòng nước mắt của ngục quan ở đây không làm cho ông nhỏ bé, hèn yếu đi mà làm cho ông trở nên trong sáng, lương thiện hơn.

- Ý nghĩa của hình tượng nhân vật quản ngục:

+ Nhân vật viên quản ngục không được tác giả đặt tên để gọi nhưng vẻ đẹp tâm hồn nhân vật này cũng đã khẳng định rằng ở bất cứ nơi đâu, kể cả những nơi chỉ có bóng tối và tội ác ngự trị cũng vẫn có những con người lương thiện.

+ Qua đó, tác giả cũng thể hiện niềm tin vào bản chất tốt đẹp của con người, bản chất ấy không bị chi phối, tác động bởi hoàn cảnh, môi trường. Nhân vật viên quản ngục đã là người chiến thắng, chiến thắng cảnh ngộ, chiến thắng chính mình, vươn tới những giá trị cao đẹp về nhân cách con người.

    1. Đánh giá chung (0,5 điểm):

      • Ý kiến xác đáng, thể hiện vị trí, ý nghĩa của nhân vật quản ngục trong câu chuyện; là định hướng để người đọc tìm hiểu và khám phát nhân vật.

      • Nhân vật quản ngục đã góp phần thể hiện chủ đề, tư tưởng của truyện, gợi mở suy nghĩ cho người đọc về lối sống, cách sống đẹp.

  1. Chỉnh tả, dùng từ, đặt câu (0,25 điểm):

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa Tiếng Việt.

  1. Sáng tạo (0,5 điểm):

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

Phần II – Câu 1:

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bàn về tinh thần học hỏi

Con người luôn luôn có nhu cầu học hỏi, mở mang tầm hiểu biết. Chính nhờ việc tích lũy và tìm tòi tri thức mà con người có sự phát triển vượt bậc như ngày nay... “Học” là quá trình tiếp thu và tích lũy kiến thức. Chính từ quá trình này, chúng ta mới biết được những điều cần thiết làm hành trang trong đời. Có học, chúng ta mới có đủ kiến thức để giải quyết những khó khăn và đạt được những thành công trong công việc. Có tìm tòi về thế giới, chúng ta mới biết về những nền văn hóa mới, mới biết được cách tôn trọng sự khác biệt giữa các quốc gia, từ đó, chúng ta mới có thể chung sống trong hòa bình, hòa hợp. Và có học, chúng ta mới có thể tạo được chỗ đứng riêng của mình, khẳng định được bản thân trong xã hội. Đó chính là những tác động to lớn của việc học mà UNESCO muốn gửi gắm trong câu “học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”. Chẳng phải, đây là những điều chúng ta luôn mong muốn, luôn đặt làm mục tiêu hàng đầu để phấn đấu, nỗ lực hay sao? Thông qua lời đề xướng, UNESCO đã mang đến cho chúng ta một thông điệp: việc học sẽ mang lại những thay đổi to lớn cho cuộc đời mỗi con người và có thể là cả thế giới. Kiến thức là một kho tàng bao la vô tận. Tất nhiên là không một ai có thể nắm giữ hết kho tàng ấy, bởi vì nó quá to lớn và luôn luôn mở rộng không ngừng. Tuy vậy, con người chúng ta luôn có khao khát được chinh phục kho tàng này, dù việc đó chẳng dễ dàng gì. Và chỉ có việc học mới có thể giúp chúng ta thực hiện ước mơ đó. Chúng ta có thể học từ nhiều nguồn, bằng nhiều cách khác nhau. Không có một công thức nào, cũng không có giới hạn nào về thời gian và không gian cho việc học cả. Chúng ta có thể học từ thầy cô, bạn bè, mọi người xung quanh; học từ những kinh nghiệm trong cuộc sống,... rồi lại mang những kiến thức đó áp dụng vào cuộc sống, “làm giàu” cho bản thân ta cả về vật chất lẫn tinh thần và thậm chí giúp đỡ những người khác. Một đất nước có nhiều công dân có trình độ, có tri thức sẽ phát triển rất nhanh và nhanh chóng trở thành một nước phát triển, giàu có, thịnh vượng.

Dân tộc ta có truyền thống hiếu học từ ngàn đời nay. Xưa kia, có không ít những vị Trạng nguyên nhà nghèo nhưng vẫn quyết chí học hành, dùi mài kinh sử, gắng đem công sức, hiểu biết của bản thân ra xây dựng đất nước. Nhiều người trong số họ đã giúp đất nước ta giữ vững độc lập, chủ quyền. Họ đã khẳng định được mình và được lịch sử vinh danh. Ngày nay, hàng ngàn học sinh trên cả nước dù gặp khó khăn về vật chất nhưng vẫn cố gắng đi học vì họ biết rằng học tập là con đường duy nhất có thể thay đổi cuộc sống của họ, giúp họ chứng tỏ được mình trong xã hội. Thậm chí, cả những người đã có địa vị, có được nhiều thành công trong công việc vẫn phải học. Họ không nhất thiết phải đi học, song họ đã tự ý thức được tầm quan trọng của việc học đối với cuộc sống, với công việc, với sự nghiệp của mình. Có lần, một tờ báo đăng một bài viết về lớp học tiếng Việt ở Đức, về việc học tiếng Việt, văn hóa Việt của những người Đức chuẩn bị sang Việt Nam là việc. Không ai yêu cầu họ làm như vậy, nhưng họ biết đó là những điều cần thiết cho cuộc sống của họ ở một đất nước mới với nền văn hóa khác biệt rất nhiều so với văn hóa Đức. Học hành ý nghĩa to lớn như vậy, song không phải ai cũng nắm bắt được mục đích của việc học. Có những bạn học sinh chây lười, chán nản, bỏ bê học hành; lại có những bạn học hành qua loa, không nghiêm túc với hy vọng vượt qua được những kỳ kiểm tra mà không chú ý đến việc học thực chất. Như vậy, làm sao các bạn có thể nắm bắt được những kiến thức cần thiết cho mai sau? Liệu rồi đây, các bạn sẽ đương đầu với những thử thách trong cuộc sống như thế nào nếu không có một nền tảng tri thức vững chắc? Lại còn những bạn học hành rất chăm chỉ, luôn luôn dành thời gian cho việc học mà quên mất thời gian cho thế giới bên ngoài. Có lẽ các bạn quên rằng thế giới ấy luôn ẩn chứa những bài học bất ngờ mà sách vở không bao giờ có thể dạy cho các bạn được. Và cũng chính thế giới ấy mới là nơi các bạn thực hành và trải nghiệm những kiến thức các bạn học được.

Học hành rất quan trọng, song cách học cũng như cách sắp xếp, cân bằng thời gian giữa học và thư giãn cũng rất quan trọng. Nếu không biết phương pháp học phù hợp thì dù học rất nhiều song ta không tiếp thu được bao nhiêu, còn nếu không cân bằng được thời gian ta sẽ bị quá tải, từ đó dẫn đến chán nản rồi cuối cùng là lười học... .Nếu không muốn bị bỏ lại phía sau nhân loại thì ta chỉ có một con đường là học mà thôi. Học để có thể tiến ra thế giới, “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” với một thái độ kiêu hãnh chứ không phải tự ti, rụt rè.

Phần II – Câu 2:

(thpt-vloc. thuathienhue. edu. vn)

Về khao khát hướng tới cái Thiện, cái Đẹp của nhân vật quản ngục

Nếu như bi kịch của ông Huấn là bi kịch của người anh hùng thất thế, thất thế nhưng vẫn kiêu hùng, lẫm liệt; thì bi kịch của ngục quan là bi kịch lầm đường. Kẻ lầm đường lạc lối, may thay, vẫn còn có lương tri, lương năng, còn có “lòng biệt nhỡn liên tài”, còn có khát vọng giải thoát. Ông tôn thờ cái đẹp, say mê cái đẹp để hi vọng tự giải thoát. Lúc ngục quan gặp huấn Cao thì “đầu đã điểm hoa râm, râu đã ngả màu”, “bộ mặt tư lự” đã hằn nhiều nếp nhăn của cuộc đời “tù nhân” nhọc nhằn, nhưng khát vọng giải thoát biểu hiện ở khát vọng hướng tới cái đẹp vẫn mãnh liệt vô cùng. Âm ỉ bấy lâu, nay nó bùng cháy lên thành lửa ngọn. Ngục quan tự hạ mình xuống trước tử tù, nhẫn nhục chấp nhận sự “khinh bạc đến điều” của ông Huấn, về bản chất, đó là sự ngưỡng mộ, cúi đầu trước cái đẹp một cách hoàn toàn tự nguyện. Hành động biệt đãi ông Huấn cũng là xuất phát từ lòng say mê đó. Nhưng đến cuối tác phẩm thì không chỉ còn là chuyện say mê, tôn thờ mấy cái chữ đẹp nữa, mà cao hơn thế, đó là sự trân trọng, tôn thờ nhân cách cao quý của một bậc tài danh. Bị cái đẹp và nhân cách cao thượng của ông Huấn thuyết phục, viên quản ngục thực sự cảm động. Ông cúi đầu một cách trang trọng, dòng lệ và tiếng nói nghẹn ngào: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”.

Số trang

(Đề thi có 02 trang)

ĐỀ THI THỬ THPTQG NĂM 2020

CHUẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐỀ 08

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh: .......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

  1. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

Đọc kĩ đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

Trời mưa như trút nước. Nửa đêm hôm đó, anh Tịch và Út bò vào móc cơ sở, mở cửa rào dẫn một cánh đột vô. Vợ chồng Út lại thu được ba cây súng và rổ lựu đạn hôm qua. Bộ đội tràn vô khắp ấp, lùng bắt ác ôn, rượt bọn lính chạy, thu thêm một số súng. Suốt đêm, Út đi lay từng cây cọc sắt, tìm lựu đạn gài để đồng bào yên tâm phá rào.

Sáng hôm sau, những người đàn bà đi chợ Cầu Kè ngang qua ấp chiến lược Chông Nô 2, thấy một người phụ nữ đầu đội nón nhựa chiến lợi phẩm, tay cầm súng, lá cây giắt đầy mình, miệng ăn trầu đỏ tươi, đứng gác trong công sự đầu ấp. Hình ảnh ấy của Út được các bà truyền đi khắp xã cùng với tin cái ấp chiến lược kiên cố, ác ôn nhất Cầu Kè bị phá banh, Út đứng như vậy, dưới trời mưa từ ba giờ khuya tới sáng. Những tên thanh niên chiến đấu, sáng sớm tưởng ta rút, mò về, bất thần bị Út bắt giơ tay… Hôm đó, Út thu được một đống lựu đạn đem chất đầy vọng gác. Về nhà, trong buổi liên hoan mừng chiến thắng, anh Mười ở tỉnh ôm thằng nhỏ của Út giơ ra giữa đám đông, nói:

    • Cháu à, má cháu bỏ cháu cả đêm, nhờ bác la má cháu mới về cho cháu bú đó.

Sau tiếng cười rộ lên, mọi người đều im bặt. Tất cả đều hướng về phía mẹ con Út. Bây giờ, ngồi đây, chị đang dịu dàng ve vuốt tóc con, nhưng sao hồi khuya, lúc xông vào ổ địch, trông chị gan lì, khác hẳn. Anh em chuyền tay nhau thằng nhỏ, hôn từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới.

Út nói:

    • Nó cũng đánh giặc phải không mấy anh? Sau này tụi nó đánh giặc còn ngon hơn tụi mình bây giờ nhiều.

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích là gì?

Câu 2: Chỉ ra 02 phép liên kết được sử dụng trong đoạn văn bản.

(Người mẹ cầm súng – Nguyễn Thi)

Câu 3: Tìm các chi tiết trong đoạn văn để cho thấy chị Út là một “người mẹ - cầm súng”.

Câu 4: Phân tích ý nghĩa câu nói cuối cùng của nhân vật chị Út trong đoạn văn.

  1. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm): Nhân vật chị Út trong đoạn văn gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về truyền thống tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Hãy thể hiện suy nghĩ bằng một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ).

Câu 2 (5,0 điểm): Trong phần kết bài thơ “Vội vàng”, Xuân Diệu có viết:

Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu, Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước, và cây, và cỏ rạng,

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

    • Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

(Vội vàng – Xuân Diệu – SGK Ngữ văn 11 tập Hai)

Còn khép lại bài thơ “Sóng” là khổ thơ:

Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữ biển lớn tình yêu.

Để ngàn năm còn vỗ.

(Sóng – Xuân Quỳnh – SGK Ngữ văn 12 tập Một)

Anh/chị có cảm nhận gì về cách ứng xử trước thời gian của hai nhà thơ qua hai đoạn thơ trên.

-------------------- HẾT --------------------

Thí sinh không được sử dụng tài liệu! Phụ huynh, thầy cô và đồng đội vui lòng không giải thích gì thêm.

!xin cảm ơn!

CHÚC CÁC EM LÀM BÀI TỐT!

  1. ĐỌC-HIỂU (3,0 điểm)

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

!

    • Đối với dạng câu hỏi tìm hình ảnh, chi tiết để minh chứng cho một nội dung nào đó (câu 3), cần chú ý:

+ Phân chia nội dung đó thành các nội dung nhỏ hơn một cách hợp lí.

+ Tìm các hình ảnh, chi tiết để minh chứng cho từng nội dung nhỏ đó.

    • Đối với dạng câu hỏi phân tích ý nghĩa của một câu nói, cần căn cứ vào:

+ Nội dung của đoạn văn bản.

+Các câu văn liền kề xuất hiện trước và sau câu văn đó.

Câu 1 (0,5 điểm):

Phương thức biểu đạt chính: Tự sự

Câu 2 (0,5 điểm):

Học sinh cần chỉ ra hai trong số các phép liên kết sau:

      • Phép lặp: Út

      • Phép thế: Út – chị - người đàn bà; anh Tịch và Út – vợ chồng Út.

      • Phép liên tưởng: trời mưa – nửa đêm – sáng hôm sau – hôm đó – bây giờ.

Câu 3 (1,0 điểm):

Chị Út là một người mẹ - cầm súng:

    • Người mẹ: chị ngồi trong đêm liên hoan, dịu dàng vuốt tóc con; tình yêu và niềm tin dành cho đứa con bé

bỏng.

    • Người chiến sĩ cầm súng: Út bò vào móc cơ sở, mở cửa rào; tay cầm súng, lá cây dắt đầy mình, gác công

sự, bắt địch quay về...

Câu 4 (1,0 điểm):

Học sinh có thể đưa ra quan điểm, đánh giá riêng của bản thân, tuy nhiên cần đảm bảo được nội dung sau:

Ý nghĩa:

      • Thể hiện truyền thống đánh giặc giữ nước của nhân dân Việt Nam: đánh giặc là nhiệm vụ thiêng liêng

của mọi người, mọi nhà; bất cứ ai là người Việt Nam đều phải tham gia đánh giặc.

      • Thể hiện sự tiếp nối giữa các thế hệ trong công cuộc kháng chiến chống xâm lược: kháng chiến là một

quá trình lâu dài, cần có sự tiếp nối giữa các thế hệ.

      • Thể hiện niềm tin và thế hệ sau: thế hệ đi sau thừa tiếp kinh nghiệm và bản lĩnh của thế hệ trước nên sẽ

can đảm hơn, linh hoạt hơn, giỏi giang hơn.

  1. LÀM VĂN (7,0 điểm):

Câu 1 (2,0 điểm):

  1. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn (0,25 điểm)

Có thể trình bày đoạn văn theo nhiều cách: diễn dịch, quy nạp, móc xích, song hành...

  1. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận(0,25 điểm):

Truyền thống tốt đẹp của người phụ nữ Việt nam.

  1. Triển khai vấn đề nghị luận (1,0 điểm):

Có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng cần

làm rõ được quan điểm về truyền thống tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Có thể theo hướng sau:

    • Người phụ nữ Việt Nam từ xưa đến nay luôn có vẻ đẹp của những người vợ, người mẹ hiền hậu, đảm đang, chung thủy.

    • Bên cạnh đó, người phụ nữ Việt Nam – khi đất nước lâm nguy – cũng sẵn sàng ra trận, trở thành những chiến sĩ, những anh hùng. Đó là truyền thống tốt đẹp của người phụ nữ.

    • Vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ đang được phát huy trong thời đại ngày nay: những người phụ nữ hiện đại vừa chăm lo cho gia đình vừa tham gia công tác xã hội, bảo vệ đất nước… (dẫn chứng)

    • Liên hệ bản thân: bản thân nhận thức như thế nào về vai trò của người phụ nữ, cần làm gì để khẳng định vị trí và phát huy truyền thống tốt đẹp của người phụ nữ.

  1. Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,25 điểm):

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa Tiếng Việt.

  1. Sáng tạo (0,25 điểm):

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

!

Một số tấm gương phụ nữ tiêu biểu:

    • Nguyễn Thị Định (1920 – 1992): Nữ tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Là người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở Mỏ Cày, Bến Tre (17/1/1960), mở đầu cho phong trào Đồng Khởi. Bà là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên giữ cương vị Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước.

    • Nguyễn Thị Bình (1927): Nổi tiếng với phong cách ngoại giao duyên dáng, lịch lãm. Bà có đóng góp rất lớn trong các cuộc đàm phán suốt từ 1968 – 1972 để đi tới việc ký kết Hiệp định Paris. Bà là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên giữ chức vụ Phó chủ tịch nước.

    • Cô giáo Nguyễn Thị Minh Tâm (Trường THPT Thiên Hộ Dương) bị tai nạn giao thông mất đi một phần thân thể, nhưng đã vượt lên nghịch cảnh, đạt nhiều thành tích xuất sắc trong công tác. Ngoài ra, cô đã lập ra nhóm hoạt động thiện nguyện, dùng sự bất hạnh của bản thân để truyền cảm hứng sống cho thật nhiều người kém may mắn.

Câu 2 (5,0 điểm)

!

Đối với dạng đề so sánh hai đoạn thơ thì định hướng của đề bài (ở đây là “cách ứng xử trước thời gian của

hai nhà thơ”) chính là trọng tâm vấn đề cần triển khai. Hơn thế các em cũng cần lưu ý:

    • Cần phân tích, cảm nhận hai đoạn thơ trong mối quan hệ với toàn bài, với phong cách riêng của từng nhà

thơ.

    • Đề không có yêu cầu so sánh trực tiếp nhưng thao tác so sánh là thao tác cần thiết để làm sáng tỏ thêm về

hai đối tượng. Khi so sánh chú ý cả phương diện nội dung và nghệ thuật.

  1. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận (0,25 điểm):

Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết bài. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân.

  1. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm):

Cách ứng xử trước thời gian của hai nhà thơ: Xuân Diệu và Xuân Quỳnh, thể hiện qua hai đoạn thơ.

  1. Triển khai vấn đề nghị luận:

Cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp dẫn chứng và lí lẽ.

CHÚ Ý

    • Cách ứng xử với thời gian trong đoạn thơ Vội vàng: nhịp điệu giục giã, hối thúc, thể hiện quan niệm cần sống nhanh, sống gấp, sống vội vàng, sống đậm đặc từng phút giây để chạy đua với thời gian.

    • Cách ứng xử trước thời gian trong đoạn thơ Sóng: khát vọng biến thành sóng để bất tử hóa tình yêu trong

biển đời rộng lớn, vĩnh hằng.

    • Điểm giống nhau: thể hiện tình yêu đời mãnh liệt, nghệ thuật có sự kết hợp cảm xúc và lí trí.

    • Điểm khác nhau: Đoạn thơ Vội vàng thể hiện tình yêu sống nồng nàn, say đắm, thể hiện tâm hồn của một nhà thơ khát khao giao hòa, giao cảm; đoạn thơ Sóng thể hiện khát vọng bất tử hóa tình yêu, biểu hiện của một hồn thơ luôn da diết khát vọng hạnh phúc giản dị, đời thường.

    1. Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm (0,5 điểm):

Xuân Diệu là nhà thơ “mới nhất trong các nhà Thơ mới” (Hoài Thanh). Ông đem đến cho thơ ca đương thời một sức sống mới, một nguồn cảm xúc mới, thể hiện một quan niệm sống mới mẻ cùng với những cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo. “Vội vàng” là bài thơ tiêu biểu của Xuân Diệu, thể hiện niềm khao khát sống mãnh liệt, sống hết mình và quan niệm về thời gian, về tuổi trẻ và hạnh phúc của Xuân Diệu.

Xuân Quỳnh là nhà thơ trẻ tiêu biểu của thơ ca kháng chiến chống Mĩ. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, vừa tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm, luôn da diết khát vọng hạnh phúc bình dị đời thường. “Sóng” ra đời từ chuyến đi thực tế đến vùng biển Diêm Điền – Thái Bình, vừa là trải nghiệm vừa là sự nhìn lại một chặng đường trong tình yêu.

    1. Cảm nhận về cách ứng xử trước thời gian qua đoạn thơ trong bài thơ “Vội vàng” (1,0 điểm)

      • Từ ý thức về thời gian ngắn ngủi hữu hạn của đời người, nhà thơ đã thôi thúc mỗi người làm một cuộc chạy đua với cuộc đời. Đoạn thơ có nhịp điệu giục giã đầy hối thúc: Mau đi thôi!

      • Ngôn từ gắn với lời nói thường, nhưng đã được nâng lên thành nghệ thuật. Cảm xúc dào dạt, mãnh liệt đã tạo nên những làn sóng ngôn từ vừa đan vào nhau, vừa cộng hưởng với nhau theo chiều tăng tiến. Tác giả dùng dồn dập những động từ mạnh, tăng tiến chỉ động tác đắm say: ôm, riết, say, thâu, nhiều danh từ chỉ vẻ đẹp thanh tân, tươi trẻ: non nước, cây, cỏ rạng, mùi thơm, ánh sáng… nhiều tính từ chỉ xuân sắc: no nê, đã đầy…, nhiều điệp từ, điệp cú pháp có tác dụng nhấn mạnh ý thể hiện sự nồng nhiệt đến vô cùng của một khát vọng được tận hưởng và tận hiến trước cuộc đời.

      • Hình ảnh mới mẻ độc đáp của đoạn: Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi! Câu thơ đã thể hiện sự say mê cuồng nhiệt, niềm giao cảm khỏe mạnh, cường tráng, khát khao giao cảm đến tột cùng, khôn thỏa. Cuộc đời trong bóng dáng giai nhân và mùa xuân chính là niềm say mê vĩnh cửu của nhà thơ.

Nội dung triết luận của đoạn thơ nghiêng về lời giải đáp “Sống vội vàng là sống như thế nào”: không kéo dài được trường độ sống thì phải tăng cường độ sống, sống nhanh, sống nhiều, sống tận hưởng, tận hiến, mỗi

cuộc đời đều phải có ý nghĩa. Đó là cách ứng xử rất tích cực và tiến bộ trước thời gian.

    1. Cảm nhận về cách ứng xử trước thời gian qua đoạn thơ trong bài thơ “Sóng” (1,0 điểm)

      • Trong sự cảm nhận chua xót, trong nỗi suy tư, nhận thức về thời gian vĩnh hằng và đời người ngắn ngủi, không thể sống mãi với tình yêu, Xuân Quỳnh đã bày tỏ khát khao biến mình thành sóng.

      • Cụm từ “tan ra” không phải mất đi mà trường tồn đến ngàn năm vì Xuân Quỳnh biết chọn biển lớn tình

yêu mà vỗ sóng. “Sóng” là hình ảnh để chuyển tải mơ ước, khát khao bất tử, vĩnh hằng. Cách để được sống mãi với thời gian là được yêu. Tình yêu sẽ hóa thành trăm con sóng nhỏ để “ngàn năm còn vỗ”. Nhà thơ không ước mình thành biển bởi biển bao la nhưng cũng có lúc “ thương hải biến vi tang điền” (Biển xanh hóa thành nương dâu) mà ước thành sóng bởi sóng là một hiện tượng tự nhiên bất tử, muôn thuở. Đây là khát vọng đẹp của một tâm hồn đẹp, chân thực và dũng cảm.

      • Ở một phương diện khác, cuộc đời chính là biển lớn tình yêu, kết tinh vị mặn ân tình, được tạo nên và hòa lẫn cùng trăm con sóng nhỏ. Trong quan niệm của nhà thơ, số phận cá nhân không thể tách khỏi cộng đồng. Sóng không phải là biểu tượng của một cái tôi ngạo nghễ và cô đơn như thơ lãng mạn. Khát vọng lớn nhưng trong cách nói Xuân Quỳnh lại rất khiêm nhường: trăm con sóng nhỏ như là sự tổng hòa những vẻ đẹp khác nhau để tạo thành biển lớn. Nhà thơ đã thể hiện một khát vọng mãnh liệt muốn làm trăm con sóng để hòa mình vào đại dương bao la, hòa mình vào biển lớn tình yêu để muôn đời vỗ muôn điệu yêu thương “Người yêu người, sống để yêu nhau” (Tố Hữu).

Đoạn thơ sôi nổi mãnh liệt khát vọng của nhà thơ, khát vọng bất tử hóa tình yêu. Đó là cách ứng xử trước thời gian mang đậm dấu ấn tâm hồn nữ sĩ và tinh thần của thời đại.

    1. So sánh cách ứng xử trước thời gian trong hai đoạn thơ (1,0 điểm):

  • Điểm tương đồng trong cách ứng xử trước thời gian trong đoạn thơ:

    • Đều thể hiện tình yêu mãnh liệt trào dâng trong nhân vật trữ tình.

    • Đó là nguyên cớ để dẫn đến khát vọng vượt qua giới hạn nhỏ hẹp, sự hữu hạn của cuộc đời để bất tử trước thời gian.

    • Về nghệ thuật: có sự kết hợp giữa cảm xúc và lí trí; khai thác hiệu quả các biện pháp nhân hóa, ẩn dụ.

  • Điểm khác biệt:

    • Đoạn thơ Vội vàng:

+ Thể hiện tình yêu cuộc sống nồng nàn thiết tha, mãnh liệt, say đắm.

+ Cách ứng xử trước thời gian: là một cuộc chạy đua, sống gấp gáp, tận hưởng từng phút, từng giây, tận hưởng rộng, tận hưởng cao thần thái, sắc điệu riêng của Xuân Diệu, một nhà thơ luôn cuống quýt, vội vàng.

+ Nghệ thuật: thể thơ tự do, nghệ thuật tăng tiến, dùng các động từ, tính từ, nhịp thơ nhanh, sôi nổi, hình

ảnh thơ tươi mới, tràn trề sức sống.

    • Đoạn thơ Sóng:

+ Thể hiện khát vọng bất tử hóa, vĩnh viễn hóa tình yêu; biểu hiện của một hồn thơ luôn da diết khát

vọng hạnh phúc giản dị, đời thường.

+ Cách ứng xử trước thời gian: tan hòa cái riêng vào cái chung, trở thành con sóng nhỏ vĩnh hằng để

muôn đời được sống với tình yêu.

+ Nghệ thuật: thể thơ năm chữ, câu thơ nhịp nhàng, giọng điệu tha thiết, chân thành.

  • Lí giải sự tương đồng và khác biệt (có thể): do cả hai nhà thơ đều là những con người “khát sống, thèm yêu”, ý thức sâu sắc về thời gian hữu hạn của con người; là do sự khác biệt về phong cách, yêu cầu sáng tạo.

  1. Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,25 điểm):

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa Tiếng Việt.

  1. Sáng tạo (0,5 điểm):

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

Phần II – Câu 1:

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nghĩ về nét đẹp phụ nữ Việt Nam xưa và nay

  • Đẹp trong quan niệm Nho giáo:

Văn hóa gia đình Việt Nam nằm trong vòng ảnh hưởng của Nho giáo. Quan hệ vợ chồng trong quan niệm của người Việt cũng mang đậm những nét ảnh hưởng đó như một điều tất yếu. Mặc dù vậy, đạo vợ chồng trong gia đình truyền thống người Việt vẫn mang những nét riêng.

Người phụ nữ Việt Nam có phần tự tin/và tự nhiên hơn so với người phụ nữ trong những đại gia, cự thất, trong những dòng họ lớn danh gia vọng tộc khá phổ biến ở Trung Quốc – quốc gia láng giềng cũng có nền tảng Nho giáo. Ngoài việc bảo đảm thiên chức làm vợ, làm mẹ, người phụ nữ Việt Nam sẵn sàng chia sẻ gánh nặng công việc với chồng. Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa là cảnh rất thường gặp ở mọi làng quê Việt Nam. Thậm chí “Thuận vợ, thuận chồng tát bể Đông cũng cạn”. Họ nội, họ ngoại cũng gần gũi chứ không xa cách: Có con mà gả chồng gần/ Có bát canh cần nó cũng mang cho.

Không chỉ chia sẻ cùng chồng những việc nhà, người phụ nữ Việt Nam còn sẵn sàng cùng chồng gánh vác cả những việc làng, thậm chí tự mình đứng lên đảm đương việc nước. Lịch sử Việt Nam đã ghi lại nhiều tấm gương phụ nữ như thế: Trưng Trắc, Triệu Thị Trinh, Dương Vân Nga, Nguyên phi Ỷ Lan, Bùi Thị Xuân và chồng là Trần Quang Diệu… Nổi tiếng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ là vợ chồng Út Tịch. Đó là một nét đẹp trong đạo vợ chồng của người Việt Nam đã kéo dài từ xa xưa đến thời hiện đại.

Không chỉ nổi trội lên một vài cá nhân mà chiếm số đông hơn và ở phạm vi rộng hơn, những người vợ, những nàng dâu hiền thảo, những tấm gương tiết phụ, khá đông đảo nhưng vô danh, là đối tượng được xã hội ca ngợi, được dựng thành nhân vật trong những tác phẩm văn học và những chuyện kể dân gian. Hình tượng người phụ nữ bồng con chờ chồng, hóa đá rồi vẫn chờ, có thể gặp ở nhiều miền, từ bắc vào nam. Đề cao, tôn vinh những người phụ nữ đức hạnh đến mức nhìn hình thể tự nhiên của thiên nhiên mà gắn vào hình ảnh cửa người phụ nữ cùng những huyền thoại của họ ở mức nhiều như vậy cũng là điều ít gặp ở các dân tộc khác.

Mặc dù Nho giáo cho phép Trai năm thê bảy thiếp/Gái chính chuyên chỉ lấy một chồng nhưng bên cạnh việc ca ngợi những tấm gương chung thủy, tiết hạnh của người phụ nữ, người Việt còn ca ngợi những người chồng có nghĩa, yêu vợ, - người vợ mang nặng nghĩa tào khang từ thủa còn phải chịu nghèo khổ cay đắng – dù có được gợi ý (đôi khi là ép buộc) một cuộc hôn nhân với con gái một con gia đình giàu có và nhiều quyền lực. Đề tài tiết – nghĩa thường gặp trong các truyện nôm (Tống Trân – Cúc Hoa; Phạm Công – Cúc Hoa; Hoa tiên v.v).

  • Đặc biệt coi trọng gia đình:

Gia đình được coi là nền tảng của xã hội: Nước là gốc của thiên hạ, nhà là gốc của nước (Thiên hạ chi bản tại quốc/ Quốc chi bản tại gia) Sự ổn định bền vững của gia đình được coi là cơ sở của sự ổn định bền vững của xã hội. Người phương Đông dồn tâm trí và sức lực để xây dựng, phát triển gia đình (đông con nhiều cháu, giàu có, danh tiếng…), coi những thành quả đó là niềm tự hào và hạnh phúc của mình.

Trong ý niệm của những đôi vợ chồng Việt Nam xưa, sự hưởng thụ cá nhân không phải là hạnh phúc. Thời gian son rỗi của đôi vợ chồng trẻ cũng không có ý nghĩa gì. Trong quan niệm truyền thống của người Việt về quan hệ vợ chồng không hề có khái niệm Tuần trăng mật sau khi cưới. Người phụ nữ bao giờ cũng nhận phần hy sinh, chịu đựng để chu toàn hạnh phúc gia đình. Họ có truyền thống hy sinh hạnh phúc cá nhân

  • hy sinh sự hưởng thụ, hy sinh tuổi trẻ, thậm chí hy sinh cả bản thân cho hạnh phúc gia đình, cho chồng/ và

cả gia đình nhà chồng, cho con, cho cháu… Nhiều phụ nữ không những phải đẻ con, nuôi con mà còn phải

nuôi cả chồng ăn học, hy vọng đến ngày chồng đỗ đạt, vinh hiển, mặc dù điều này cũng không có gì chắc chắn lắm. Nhiều khi họ phải thốt lên: “Khuyên ai chớ lấy học trò/ Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm”. Nhưng họ vẫn cặm cụi hy sinh, chỉ mong người chồng đánh giá đúng được điều đó, mong rằng Gái có công chồng chẳng phụ…

Ở một đất nước sống dựa vào nền sản xuất nông nghiệp nhưng lắm thiên tai, lại phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh giữ nước, sự hy sinh của phụ nữ Việt Nam bị nhân lên bội phần. Tần tảo, cần cù, kiên cường, chịu đựng, thủy chung… là những gì luôn được nhắc đến khi nói về những phẩm chất tốt đẹp của những người phụ nữ, những người vợ, người mẹ Việt Nam.

Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và sự nghiệp xây dựng đất nước của nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã đưa lịch sử dân tộc sang trang mới từ mùa thu năm 1945. Quyền bình đẳng của phụ nữ (cùng với nhiều quyền khác) đã được khẳng định trên thực tế. Phụ nữ Việt Nam đã vươn lên khẳng định vị thế của mình, ngày càng tham gia tích cực và đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Họ cũng không quên lo chu toàn công việc gia đình, xứng đáng với lời khen tặng của Bác Hồ: “Anh hùng, Bất khuất, Trung hậu, Đảm đang”.

Cùng đất nước đổi mới và phát triển, phụ nữ Việt Nam càng khẳng định vị trí vai trò của mình trong đời sống xã hội. Bên cạnh người phụ nữ gia đình là người phụ nữ xã hội không thể tách rời. Tuy vậy, chưa thể nói phụ nữ Việt Nam đã đạt đến sự bình đẳng hoàn toàn. Nhiều “thói quen” của xã hội cũ (trọng nam khinh nữ, gia trưởng, bạo hành gia đình…) vẫn hằn sâu trong nếp nghĩ của nhiều “đấng trượng phu” hiện đại. Phụ nữ Việt Nam vẫn còn cần tiến hành tiếp cuộc cách mạng bình đẳng giới của mình và cho mình.

Ngô Vương Anh (baotintuc.vn)

Phần II – Câu 2:

Cách ứng xử với thời gian trong đoạn thơ của bài thơ “Vội vàng”

Đối diện với nỗi tuyệt vọng vì đời người ngắn ngủi, nhà thơ bất ngờ tìm ra lối thoát trong cuộc chạy đua với thời gian “Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm”. Đây chính là kết luận: sống vội vàng, cuống quýt để tận dụng từng giây, từng phút tuổi thanh xuân, là cách duy nhất để thực hiện khát vọng sống trước quy luật khắc nghiệt của đất trời.

Đoạn thơ cuối cùng đó diễn tả thật mới mẻ ý tưởng táo bạo đó. Những hành động sống vội vàng, những cảm xúc thật mãnh liệt, những ham muốn mỗi lúc một cuồng nhiệt, vồ vập.

Mở đầu bài thơ là “tôi” nhưng kết thúc là “ta”, cách xưng hô này là dụng ý nghệ thuật của tác giả. “Ta” ở đây không phải cái “ta” cộng đồng mà là cái ta đại diện chung, chỉ mọi tuổi trẻ, mang khát khao hòa nhập nhiều cuộc đời trong một cuộc đời, sống nhiều cuộc đời trong một cuộc đời. “Ta muốn ôm” đứng giữa dòng thơ hữu hình hóa hình ảnh một con người giang tay đứng giữa trần gian mà ôm cho trọng cuộc sống “Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn”. Khao khát ôm trùm ở đây rất lớn lao, không phải là sự sống đang diễn ra, sự sống đã hình thành mà là ham hố hưởng thụ cuộc sống từ khi mới bắt đầu, còn non tơ. Và đặc biệt trong quan niệm của Xuân Diệu, sống đồng nghĩa với yêu nên trước cuộc đời, thi sĩ là một tình nhân. Khát vọng hưởng thụ, giao cảm mãnh liệt với cuộc sống của thi sĩ đó trở thành một cuộc tình tự với những động tác yêu đương ngày càng say đắm:

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

với mức độ thụ hưởng ngày càng tăng tiến:

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

Điệp từ “Ta muốn” đi liền với một loạt động từ mạnh khiến dòng cảm xúc càng lúc càng tuôn trào, ào ạt, giọng thơ sôi nổi, nhịp thơ nhanh, mạnh, nồng nàn, cháy bỏng. Và thi sĩ – người tình của sự sống – như con ong say mật lảo đảo giữa phấn hương “Và non nước và câu và cỏ rạng”. Điệp từ “và” là sự nhân lên vô biên của cảm xúc, các đối tượng của sự sống xuất hiện lộn xộn, không theo một trật tự nào “non nước, cây, cỏ rạng”, dường như tác giả nghĩ đến điều gì thì điều ấy ngay lập tức trở thành đối tượng của yêu đương. Tất cả đồng loạt xô đến trong trái tim thi sĩ. Niềm yêu đó trào lên tột đỉnh “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”. Xuân được cụ thể trong một hình hài “xuân hồng” thắm tươi, rực rỡ, tình yêu được cụ thể trong một hành động “cắn” cuồng nhiệt, ham hố. Nỗi khát thèm cuộc đời, sự sống không bao giờ nguôi trong trái tim thi sĩ.

Đó thực sự là những hành động “sống cuống quýt, sống vội vàng” để “tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình”, tận hưởng thời tươi, tuổi trẻ. Những hành động đó ẩn chứa một quan niệm nhân sinh mới mẻ chưa từng thấy: hãy khẩn trương, sống gấp gáp, đậm đặc từng phút giây, thụ hưởng trọn vẹn cuộc sống, sống hết mình cho vẻ đẹp cuộc đời. Quan niệm này rất tiến bộ, tích cực. Nó là lòng yêu cuộc sống của thi sĩ, nó khơi gợi lòng ham sống, sự trân trọng cuộc sống của mỗi người.

Số trang

(Đề thi có 01 trang)

ĐỀ THI THỬ THPTQG NĂM 2020

CHUẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐỀ 09

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh: .......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

  1. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Tôi có hơn 25 năm sống ở Đức, làm đủ mọi nghề để kiếm sống trên xứ người. Sau khi nước Đức thống nhất, tôi mua chiếc ôtô cũ để đi lại buôn bán. Một lần, để tiết kiệm, tôi thay dầu trong vườn nhà, nơi mình đang ở, thay vì mang ôtô ra xưởng.

Vừa thay xong, chui khỏi gầm xe tôi thấy hàng xóm lù lù xuất hiện. Đó là người đàn ông đã già vẫn thường hay cười với tôi qua hàng rào hoa. Nhìn vào khay dầu tôi đang bưng, ông nghiêm khắc nói: “Nếu tôi báo cảnh sát, cậu sẽ phải chịu phạt 500 mark. Tôi không báo vì chắc cậu không biết. Lần sau không được thay dầu ở vườn mà phải vào gara hoặc ra cây xăng”. Tôi cãi rằng tôi đã cỏ khay đựng dầu thừa. Nhưng ông tủm tỉm cười rồi bảo tôi cúi xuống, chỉ cho tôi cái vít đáy dầu: “Cậu nhìn kìa, dầu là loại vật chất dính dớt. Cậu cẩn thận đến đâu thì vẫn có vài giọt chảy ra cái vít kia và rớt xuống vườn. Ai cũng như cậu thì mảnh đất của chúng ta sẽ nhiễm độc. Con cháu chúng ta sẽ chịu hậu quả khi sống ở đây”. Tôi vội vàng xin lỗi và cảm ơn ông.

Sau này, mỗi lần chúng tôi ngồi bên nhau ở chiếc băng gỗ, thưởng thức bia dưới những gốc anh đào trĩu trịt chùm quả đỏ ối, tôi đều nhớ về gương mặt của ông, nhớ về lời nói của ông và nhớ về tình yêu ông dành cho mảnh vườn đã gắn bó gần 90 năm...

Câu 1: Xác định nội dung đoạn văn.

(Yêu nước thời bình – Nguyễn Văn Thọ - vnexpress.net 13/11/2015)

Câu 2: Đoạn văn đã sử dụng phương thức biểu đạt chính nào?

Câu 3: Anh/chị rút ra được những bài học gì từ thái độ và lời nói của nhân vật người hàng xóm?

Câu 4: Trong câu văn cuối đoạn, nhà văn đã sử dụng biện pháp điệp ngữ. Hãy cho biết tác dụng của biện

pháp đó.

  1. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm): Từ nội dung của đoạn văn phần Đọc - hiểu, hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) thể hiện suy nghĩ về ý thức, trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc giữ gìn, bảo vệ môi trường sống hiện nay. Câu 2 (5,0 điểm): Vẻ đẹp của bức tranh thôn Vĩ và nỗi niềm tâm sự của thi nhân trong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” - Hàn Mặc Tử (SGK Ngữ văn 11, tập Hai). Nỗi niềm tâm sự đó gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về số phận

và khát vọng của người nghệ sĩ (đặt trong liên hệ với hình ảnh Lor-ca trong bài thơ “Đàn ghi-ta của Lor-ca” -

Thanh Thảo - SGK Ngữ văn 12, tập Một).

-------------------- HẾT --------------------

Thí sinh không được sử dụng tài liệu! Phụ huynh, thầy cô và đồng đội vui lòng không giải thích gì thêm.

!xin cảm ơn!

CHÚC CÁC EM LÀM BÀI TỐT!

  1. ĐỌC-HIỂU (3,0 điểm)

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

!

Đối với câu hỏi nêu nội dung của đoạn văn, các em cần chú ý:

  • Đây là dạng câu hỏi rất quen thuộc, tuy nhiên nhiều học sinh khi trả lời hoặc là sai lệch hoặc là đúng ý

nhưng trình bày quá dài.

  • Nên kết hợp các thông tin sau để tìm ra câu trả lời hợp lí nhất:

+ Nhan đề.

+ Câu chủ đề (thường đứng đầu hoặc cuối).

+ Từ ngữ chủ đề (từ ngữ lặp đi lặp lại nhiều lần, các từ đóng vai trò chủ ngữ).

+ Yêu cầu của các câu hỏi Đọc - hiểu khác.

Câu 1 (0,5 điểm):

Nội dung đoạn văn: Câu chuyện về tình yêu và trách nhiệm của một người công dân Đức với quê hương

mình qua những việc làm rất nhỏ bé.

Câu 2 (0,5 điểm):

Phương thức biểu đạt chính: tự sự.

Câu 3 (1,0 điểm):

Học sinh có thể đưa ra nhiều bài học khác nhau, tuỳ vào nhận thức của bản thân nhưng cần đảm bảo tính

hợp lí. Một số gợi ý:

    • Bài học về tình yêu quê hương, đất nước: tình yêu quê hương đất nước trở thành máu thịt trong mỗi con

người, biểu hiện bằng những hành động thiết thực nhất.

    • Bài học về việc bảo vệ, giữ gìn môi trường sống: giữ gìn bảo vệ môi trường sống cho cá nhân, cho cộng đồng, cho hôm nay và cho cả mai sau.

    • Bài học về trách nhiệm với cộng đồng trong từng việc làm nhỏ nhất: mỗi cá nhân không thể tách rời khỏi cộng đồng nên bất cứ ai đều phải nêu cao trách nhiệm với cộng đồng, dù chỉ là trong những việc làm nhỏ nhất.

    • Bài học về việc nhận lỗi: ai cũng có thể làm sai nhưng quan trọng nhất là biết nhận lỗi để sửa chữa sai

lầm.

Câu 4 (1,0 điểm):

Tác dụng:

    • Thể hiện tình cảm trân trọng, yêu mến, cảm phục, gắn bó đối với người hàng xóm.

    • Nhấn mạnh sự ghi khắc và cũng là tự nhắc nhở chính mình, rút ra bài học cho mình của nhân vật “tôi”

về thái độ và cách hành xử đối với mảnh đất quê hương từ những việc nhỏ bé nhất.

  1. LÀM VĂN (7,0 điểm):

Câu 1 (2,0 điểm):

!

Đề nghị luận xã hội thường có xu hướng cập nhật thông tin, gần gũi với đời sống hiện tại (ở đây đề nêu rõ

vấn đề bảo vệ môi trường sống hiện nay). Vì thế, các em cần chú ý:

  • Dẫn chứng đưa ra trong bài làm có tính cập nhật: những sự kiện, con người mới diễn ra, mới xuất hiện gần đây.

  • Liên hệ bản thân là những vấn đề rất thiết thực, cụ thể, những hành động hoặc việc làm mà bản thân thực sự

có tham gia, có đóng góp.

  1. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn (0,25 điểm)

Có thể trình bày đoạn văn theo nhiều cách: diễn dịch, quy nạp, móc xích, song hành...

  1. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận(0,25 điểm):

Vấn đề giữ gìn, bảo vệ môi trường sống hiện nay của giới trẻ.

  1. Triển khai vấn đề nghị luận (1,0 điểm):

Có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng cần làm rõ được vai trò, ý nghĩa quan trọng của vấn đề bảo vệ, giữ gìn môi trường sống hiện nay. Có thể theo hướng sau:

    • Đoạn văn đã kể lại một câu chuyện rất giản dị về ý thức bảo vệ mảnh đất quê hương của một người Đức. Điều đó đã gợi nên suy nghĩ về trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc giữ gìn, bảo vệ môi trường sống hiện nay.

    • Bảo vệ, giữ gìn môi trường sống là vấn đề có ý nghĩa quan trọng, là yêu cầu cấp thiết trong xã hội hiện nay, đặc biệt khi tình trạng ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu ngày càng trầm trọng. Thế hệ cần chung tay, góp sức bằng những hành động cụ thể, thiết thực (dẫn chứng).

    • Phê phán thái độ thờ ơ, những hành động phá hoại môi trường sống của các bạn trẻ.

    • Liên hệ, rút ra bài học thiết thực cho bản thân: là một người trẻ tuổi, bản thân đã dự định và đang làm gì

để góp phần bảo vệ môi trường sống.

  1. Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,25 điểm):

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa Tiếng Việt.

  1. Sáng tạo (0,25 điểm):

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

!

Một số tấm gương thanh niên bảo vệ môi trường:

  • Giàng Quốc Hưng - Bí thư Tinh đoàn Lào Cai, nhận giải thưởng môi trường Việt Nam 2017. Anh đã cùng với các đoàn viên xây dựng các chương trình tuyên truyền bảo vệ môi trường, thực hiện nhiều hoạt động cụ thể bảo vệ môi trường mang lại hiệu quả cao.

  • Ở nhiều vùng biển hiện nay như Sầm Sơn - Thanh Hóa hay Cát Bà - Hải Phòng, đã xuất hiện nhiều câu lạc bộ tình nguyện thu hút sự tham gia của nhiều thanh niên trong công tác bảo vệ sự xanh - sạch của môi trường biển.

Câu 2 (5,0 điểm)

!

Đây là dạng đề nghị luận văn học có định hướng. Định hướng đó chính là vấn đề nghị luận (ở đây có hai vấn đề nghị luận: vẻ đẹp của bức tranh thôn Vĩ và nỗi niềm tâm sự của thi nhân). Khi xuất hiện hai vấn đề nghị luận có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong tác phẩm thơ (thường là tình và cảnh), các em cần chú ý:

  • Xây dựng luận điểm của bài theo vấn đề nghị luận để làm sáng rõ định hướng. Có thể phân tích bài thơ theo trình tự và sau đó rút ra từng vấn đề nghị luận hoặc chia nội dung bài thơ theo hai vấn đề nghị luận (như đáp án đã đưa ra).

  • Luôn luôn nhìn nhận hai vấn đề nghị luận trong mối quan hệ với nhau để làm nổi bật giá trị tư tưởng của bài

thơ.

  1. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận (0,25 điểm):

Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết bài. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân.

  1. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm):

Bức tranh thôn Vĩ và nỗi niềm tâm sự của nhà thơ qua bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”. Suy nghĩ về số phận,

khát vọng của người nghệ sĩ.

  1. Triển khai vấn đề nghị luận:

Cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp dẫn chứng và lí lẽ.

    1. Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm (0,5 điểm):

Hàn Mặc Tử là một trong những nhà thơ lớn, một tài năng thi ca độc đáo và có sức sáng tạo mãnh liệt của phong trào thơ Mới. Thơ Hàn Mặc Tử có diện mạo phức tạp, bí ẩn, lạ lùng nhưng trong mạch ngầm cảm xúc, hồn thơ đau thương vẫn luôn hướng về cuộc đời trần thế với một tình yêu tha thiết. Đây thôn Vĩ Dạ lúc đầu có tên là Ở đây thôn Vĩ, sáng tác năm 1938, in trong tập Thơ Điên sau đổi thành Đau thương. Bài thơ được gợi cảm hứng từ bức tranh phong cảnh Huế và từ mối tình của Hàn Mặc Tử với một cô gái quê ở Vĩ Dạ - một thôn nhỏ với những ngôi nhà xinh xắn ẩn hiện trong những vườn cây xanh mát.

    1. Phân tích bài thơ để thấy được vẻ đẹp của bức tranh thôn Vĩ và nỗi niềm tâm sự của thi nhân (2,0

điểm):

  • Khổ thơ 1:

CHÚ Ý

+ Bức tranh thôn Vĩ Dạ: Bức tranh vườn thôn Vĩ, tươi đẹp, rực rỡ, bình yên, đầy sức sống.

+ Tâm trạng thi nhân: mối ân tình đậm đà với Vĩ Dạ, khao khát cháy bỏng được trở về cuộc đời.

  • Khổ thơ 2:

+ Bức tranh sông nước mây trời xứ Huế rất đẹp nhưng cũng đượm buồn, chia li.

+ Tâm sự của thi nhân: nỗi đau chia lìa, bi kịch lớn lao.

  • Khổ thơ 3:

+ Bức tranh sương khói gắn với giai nhân xứ Huế mờ ảo, tinh khôi.

+ Tâm sự của thi nhân: khắc khoải cầu xin được san sẻ, nỗi niềm cô đơn, trống vắng mênh mang.

  • Liên hệ: Nhiều người nghệ sĩ chân chính có số phận bất hạnh nhưng luôn mang khát vọng cống hiến, làm

đẹp cho đời.

  • Khổ thơ thứ nhất:

+ Bức tranh vườn thôn Vĩ trong nắng mai: Thôn Vĩ được khắc họa qua hình ảnh của một khu vườn tươi đẹp, rực rỡ và bình yên:

++ Nắng thôn Vĩ là hình ảnh đầu tiên trong cảm nhận của thi sĩ. Trong mảnh vườn này, thi sĩ nói giản dị “nắng hàng cau” nhưng thật gợi cảm. Nó mang theo đặc trưng của Vĩ Dạ, chưa đến Vĩ Dạ đó nhìn thấy những vườn cau vút lên toả xuống những mái nhà vẻ êm đềm, thắm mát. Nó cũng là một loại khác, một thể khác, không phải là thứ nắng chiếu như “nắng mới” hay “nắng chang chang” đó là nắng chảy, nắng dội. Thân cau thẳng đứng thành nhiều nếp như một thước đo, nắng mai rót vào vườn đầy lên theo từng đốt, sóng sánh,

lấp lánh. Cau lại là loại cây cao nhất nên đó là cây đón những tia nắng đầu tiên của một ngày “nắng mới lên”.

Nắng mới lên” là nắng bắt đầu, nắng ban mai, nắng thiếu nữ, rất thanh khiết, tinh khôi, trong trẻo.

++ Từ hàng cau, cái nhìn của thi sĩ đó rộng mở đến hình ảnh vườn thôn Vĩ, cũng là một đặc trưng của thôn Vĩ - kết cấu nhà vườn: “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Câu thơ vang lên như một tiếng reo đầy ngạc nhiên. Từ “ai” rất tình tứ, tràn đầy thương nhớ lại bảng lảng sương khói của hoài niệm. Tác giả chọn tả sắc xanh của vườn để làm bật lên sức sống của cảnh vật “Mướt quá xanh như ngọc”. “Mướt” ánh lên vẻ mượt mà, óng ả, xuân sắc. “Xanh như ngọc” là một hình ảnh so sánh lung linh. Vườn thôn Vĩ như một viên ngọc lớn, không chỉ rời rợi sắc xanh mà cũng đang toả vào ban mai những ánh xanh nữa.

++ Con người xứ Huế rất đẹp trong cảnh vườn. “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” gợi nên vẻ đẹp của

con người xứ Huế rất phúc hậu, thuần phác, kín đáo, gợi nên sự hài hoà giữa thiên nhiên và con người.

+ Nỗi niềm tâm sự của nhà thơ:

++ Câu thơ mở đầu là một câu hỏi, một lời mời, cũng là một nhắc nhở hay tự mời, tự nhắc nhở. Nó cũng có thể là một lời trách nhưng không phải là trách móc mà là trách hờn, trách không phải để truy tìm nguyên nhân mà là trách để gợi nhớ, để gợi yêu thương. Câu thơ cũng tha thiết với hai chữ “về - chơi”, như một sự trở về ấm áp với gia đình, với quê hương. Nhưng lại cũng đau xót, ngậm ngùi với hai chữ “không – về”, hàm ý của việc không bao giờ có thể trở về.

++ Trong bức tranh thôn Vĩ, mỗi câu, mỗi hình ảnh đều ẩn giấu trong đó nỗi niềm tâm sự của nhà thơ. “Nắng mới” thầm kín một khao khát được bắt đầu lại từ đầu, từ “ai” tình tứ thể hiện một khao khát gắn bó. Hình ảnh của con người ở câu thơ thứ tư là người thôn Vĩ nhưng cũng có thể chính là thi sĩ. Thi sĩ đã tự vẽ mình trên trang thơ trong chuyến trở về cuộc đời thầm lén, nép ngoài rào trúc mà ngắm vẻ đẹp thần tiên của khu vườn. Giống như một kẻ đứng ngoài với một cái nhìn tha thiết.

++ Hơn hết, phải có mối ân tình sâu sắc, đậm đà với Vĩ Dạ, thi sĩ mới lưu được trong tâm trí những hình ảnh đẹp đẽ, sống động như thế. Thôn Vĩ cũng là hình ảnh của một thiên đường trần gian, một thiên đường đã mất đối với Hàn Mặc Tử, thể hiện khao khát cháy bỏng, ước mơ trở về cuộc đời của thi sĩ.

  • Khổ thơ thứ hai:

+ Bức tranh sông nước, mây trời xứ Huế:

++ Bức tranh sông nước xứ Huế chia lìa, tan tác, ngưng đọng một nỗi sầu buồn. “Buồn thiu” là nỗi buồn tràn ngập, một nỗi buồn hiu hắt, một nỗi buồn dằng dặc. Sông nước như ngưng đọng, lặng lờ, lưu cữu nỗi buồn nên nỗi buồn càng xoáy sâu. Câu thơ có chuyển động nhưng là chuyển động rất nhẹ “hoa bắp lay”. Động thái “lay” tự nó không vui, không buồn nhưng trong hoàn cảnh này, nó gợi lên sự hiu hắt, thưa vắng. Đó là nét buồn phụ hoạ với gió mây, sông nước, thấm thìa và đơn côi.

++ Bức tranh sông nước thanh sáng, huyền ảo với thuyền trăng, sông trăng, bến trăng. Cảnh sông nước như chìm trong cõi mơ, cõi mộng, đầy ánh sáng.

+ Nỗi niềm tâm sự của thi nhân:

++ Ẩn sâu trong nỗi buồn của cảnh là tâm trạng của thi nhân. Gió và mây vốn dĩ luôn đi cùng “Mây bay gió quyến mây bay” (Thế Lữ) nhưng ở đây cũng phân li. Sự chia lìa cả những thứ tưởng như không thể chia lìa. Cũng như con người, tưởng rằng tình yêu sẽ gắn kết vĩnh viễn nhưng thi sĩ cuối cùng vẫn bị bứt ra khỏi cuộc đời. Câu thơ dường như mang bi kịch chia li của Hàn Mặc Tử. Hương Giang không thể tự buồn mà bởi thi nhân đã bỏ buồn vào lòng sông. Nó phảng phất nỗi u uẩn của lòng thi sĩ, trước sự lạnh lùng, xa cách của cuộc đời với chính mình.

++ Cảnh sông trăng, bến trăng đẹp và mơ mộng nhưng ở chiều sâu lại khát vọng đoàn tụ và bi kịch đớn

đau của thi sĩ. “Tối nay” như một thời điểm định mệnh, một sự truy sát gắt gao của thời gian. Thi sĩ muốn đưa vầng trăng đi cùng trong chuyến viễn du trở về với thực tại như một nỗ lực cuối cùng để quay lại với cuộc đời. Chữ “kịp” kia ẩn chứa bao đau thương, bi kịch. Thi sĩ đã hoàn toàn lỡ nhịp, lỡ chuyến với cuộc đời.

  • Khổ thơ thứ ba:

+ Bức tranh sương khói xứ Huế: Sương khói xứ Huế bảng lảng một sắc màu huyền ảo, mơ hồ “sương

khói mờ nhân ảnh”. Người con gái Huế với sắc áo trắng thể hiện một vẻ đẹp tinh khôi, thanh khiết

+ Nỗi niềm tâm sự của nhà thơ:

++ Câu thơ thứ nhất mở ra bằng “mơ” như một sự chợt tỉnh ra, tất cả chỉ là một giấc mơ, một hoài vọng. Giấc mơ đã kết thúc, chỉ còn thực tại ở lại. Điệp ngữ “khách đường xa” vang lên gấp gáp, khắc khoải khiến cho khoảng cách đó càng vời vợi, cách trở.

++ Hình ảnh em chính là hiện thân của cuộc đời say đắm nhất mà thi sĩ luôn khao khát. Đó là thế giới ước mơ, Hàn Mặc Tử không thể quay về được nữa.

++ Câu thơ thứ ba hiện hình là một thế giới tương phản với thế giới được vẽ ra ở khổ một, đó là thế giới sương khói, u ám, ảm đạm. “Ở đây” - trong này - cách biệt, đau thương, bị đày đoạ, đối lập với “ngoài kia” - thiên đường cuộc đời. Thế giới ấy dường như đang xoá mờ dần đi mối liên hệ của thi sĩ với cuộc đời “mờ nhân ảnh”.

++ Câu thơ cuối chứa đựng sự cầu xin được chia sẻ, được gắn bó bởi dường như thi sĩ đó cố công gắn kết “em” và “anh” trong một từ “ai” tuy hai mà một. Nhưng ngay sau đó là một sự hụt hẫng, chới với, day dứt, một câu hỏi đau đớn “có đậm đà”, tình người đằm thắm hay không, hay cũng mờ ảo, dễ tan như sương khói. Ngoài kia, với Hàn Mặc Tử luôn khó nắm bắt và xa vời. Cho nên đọng lại trong câu thơ là nỗi cô đơn, trống vắng mênh mang.

    1. Đánh giá chung (0,25 điểm):

      • Bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Hàn Mặc Tử, khắc họa vẻ đẹp thơ mộng, tươi trẻ, đầy sức sống của thôn

Vĩ, đồng thời thể hiện tình yêu đời, yêu người nhưng đầy ưu tư, uẩn khúc của nhà thơ.

      • Bút pháp tả thực cùng các hình ảnh tượng trưng, ngôn ngữ giản dị mà hàm súc đã góp phần hoàn thiện chỉnh thể bài thơ.

    1. Liên hệ hình ảnh Lor-ca, thể hiện suy nghĩ về số phận, khát vọng của người nghệ sĩ (0,75 điểm):

      • Hình ảnh của Lor-ca trong bài thơ “Đàn ghi-ta của Lor-ca”: Thanh Thảo đã khắc họa hình ảnh của Lor- ca là người nghệ sĩ vĩ đại, một nhà cách tân nghệ thuật, một chiến sĩ đấu tranh chống lại chế độ độc tài. Cái chết bất ngờ kéo đến, khủng khiếp và dữ đội, đau thương và bi thảm (áo choàng bê bết đỏ, tiếng ghi-ta ròng ròng máu chảy...) nhưng người nghệ sĩ vẫn ung dung đi vào cõi vĩnh hằng. Nguyện ước duy nhất gửi lại hậu thế là khát vọng nghệ thuật bất tử, là mong muốn thực sự ra đi để không cản trở thế hệ sau bước tiếp trên con đường cách tân nghệ thuật.

      • Mặc dù khác nhau về hoàn cảnh, thời đại, dân tộc nhưng nghệ thuật là lĩnh vực không biên giới, không giới hạn nên trong nỗi niềm của Hàn Mặc Tử và tâm huyết Lor-ca vẫn có điểm tương đồng. Họ đều là hình ảnh tiêu biểu cho những người nghệ sĩ chân chính phải chịu số phận đau thương, bất hạnh. Nhưng ở họ không bao giờ nguôi khát vọng được cống hiến, được sáng tạo và tình yêu đời thiết tha, mãnh liệt. Chính điều này là cội nguồn để tạo nên những tác phẩm nghệ thuật bất hủ, tô điểm cho cuộc sống và làm đẹp tâm hồn con người.

  1. Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,25 điểm):

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa Tiếng Việt.

  1. Sáng tạo (0,5 điểm):

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

Phần II – Câu 1:

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Vai trò của thanh niên, thiếu niên trong bảo vệ môi trường

Hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ môi trường là nhiệm vụ mang tính sống còn, là một bộ phận đặc biệt quan trọng của sự phát triển bền vững đất nước, góp phần quyết định vào thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Đất nước ta là quốc gia có dân số ‘trẻ’, lực lượng lao động là thanh niên chiếm khoảng 70% tổng số lao động trong xã hội, do vậy, việc tăng cường vai trò của thanh niên, thiếu niên trong bảo vệ môi trường là hết sức quan trọng, có ý nghĩa sâu sắc, lâu dài đối với công tác bảo vệ môi trường. Đảng ta đã xác định, bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, việc giáo dục ý thức và hành vi bảo vệ môi trường phải được thực hiện ở tất cả các cấp học. Trong những năm qua, việc giáo dục ý thức và hành vi bảo vệ môi trường cho thanh niên, thiếu niên đã được triển khai một cách đồng bộ, sâu, rộng và đã có nhiều kết quả tích cực. Các phong trào bảo vệ môi trường đã được thanh niên, thiếu niên hưởng ứng và thực hiện tốt, tạo nên một làn sóng mạnh mẽ về bảo vệ môi trường trong xã hội, góp phần cải thiện môi trường lao động, sản xuất và học tập trên cả nước. Tuy nhiên, bên cạnh số thanh niên, thiếu niên tích cực bảo vệ môi trường, vẫn còn một bộ phận thanh niên, thiếu niên thờ ơ với bảo vệ môi trường, thậm chí còn có những thanh niên, thiếu niên ngang nhiên thực hiện những hành vi tác động xấu đến môi trường ở nơi họ sinh sống, học tập và lao động. Nguyên nhân chính là do công tác giáo dục ý thức và hành vi bảo vệ môi trường cho thanh niên, thiếu niên có nơi, có lúc còn chưa được sự quan tâm của các bậc phụ huynh và hệ thống chính trị cơ sở. Bên cạnh đó, do phong trào bảo vệ môi trường còn chưa được đa số nhân dân hưởng ứng, chế tài xử lý hành vi vi phạm chưa cụ thể, đồng bộ... cho nên vẫn còn nhiều người, trong đó có thanh niên, thiếu niên thực hiện hành vi xâm hại môi trường mà chưa bị lên án, xử lý nghiêm minh. Bảo vệ môi trường sống là hành vi xã hội cần được giáo dục, tạo thành ý thức, thói quen đối với mỗi cá nhân từ khi còn nhỏ, từ những hành vi nhỏ. Bên cạnh việc xây dựng các phong trào thanh niên, thiếu niên bảo vệ môi trường cần tạo dư luận xã hội lên án mạnh mẽ đối với các hành vi thiếu tôn trọng môi trường sống, xâm hại đến môi trường, từ đó tăng cường ý thức về bảo vệ môi trường trong thanh niên, thiếu niên, qua đó, đưa ý thức bảo vệ môi trường trở thành tiêu chí đánh giá mang tính đạo đức xã hội đối với thanh niên, thiếu niên. Công tác giáo dục ý thức và hành vi bảo vệ môi trường cho thanh niên, thiếu niên cần được tiếp tục coi trọng tại các gia đình, các khu dân cư, các trường học, doanh nghiệp... Phải xác định đây là việc làm thường xuyên, liên tục gắn liền với tất cả các hoạt động học tập, sản xuất, vui chơi giải trí cũng như trong sinh hoạt hằng ngày.

Phần II – Câu 2:

(baomoi.com 11/05/2011)

Bức tranh thôn Vĩ và tâm trạng của thi nhân trong khổ thơ đầu

Câu thơ thứ nhất mở đầu bằng từ “sao”: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ” đầy hàm ý. Với từ “sao” này rất có thể hiểu cấu trúc câu thơ ở ba phương diện gắn với ba nét nghĩa quan hệ và bổ sung lẫn nhau. “Sao anh không về chơi thôn Vĩ’ trước hết giống như một câu hỏi có từ đề hỏi “sao” nhưng đây là câu hỏi không hướng đến câu trả lời mà để gợi nhớ, gợi nhắc, một lời tự nhủ: còn có một thôn Vĩ, hay là một tiếng lòng nuối tiếc: thôn Vĩ còn kia mà người thôn Vĩ đã đi xa. Câu thơ còn gần với một lời mời nhẹ nhàng, kín đáo, cuộc đời hay tình yêu hay kỉ niệm đang mời gọi thi sĩ quay về trong bóng dáng của giai nhân. Nó cũng có thể là một lời trách nhưng không phải là trách móc mà là trách hờn, trách không phải để truy tìm nguyên nhân mà là trách để nhắc nhở, để gợi yêu thương. Câu thơ còn tha thiết với hai chữ “về - chơi”, “về - thăm” hay “đến - chơi” đều xã giao nhưng “về - chơi” thân mật, gần gũi biết bao với thi sĩ, thôn Vĩ là quê hương, là nơi

để về chứ không phải đích để đến, là nơi ấm áp yêu thương, nơi có một phần đời đã đi qua còn in lại. Và như thế, chẳng phải ngay từ câu đầu tiên, lời thơ như đã có gì trăn trở, khắc khoải hay sao? Một câu hỏi vọng lại từ một phương trời xa hay cất lên trong lòng thi sĩ? Khó mà đoán biết! Nhưng có lẽ đều là cái duyên cớ đẹp đẽ để thi sĩ băng qua nghìn trùng cách xa hai cõi mà sống lại với những kỉ niệm về thôn Vĩ.

Sau lời mời (hay tự mời) mở ra một không gian thôn Vĩ:

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Mỗi câu là một chi tiết vườn. Tất cả hòa hợp và ánh lên trong một vẻ đẹp thanh tú.

Nắng thôn Vĩ là hình ảnh đầu tiên trong cảm nhận của thi sĩ. Trong thơ Hàn Mặc Tử, nắng là một môtip ám ảnh. Ta thường gặp những thứ nắng lạ, đầy ấn tượng; nắng tươi, nắng ửng, nắng loạn, nắng chang chang... Trong mảnh vườn này, thi sĩ nói giản dị “nắng hàng cau” nhưng thật gợi cảm. Nó mang theo đặc trưng của Vĩ Dạ, chưa đến Vĩ Dạ đã nhìn thấy những vườn cau vút lên toả xuống những mái nhà vẻ êm đềm, thắm mát. Nó cũng là một loại khác, một thể khác, không phải là thứ nắng chiếu như “nắng mới” hay “nắng chang chang” đó là nắng chảy, nắng dội. Thân cau thẳng đứng thành nhiều nếp như một thước đo, nắng mai rót vào vườn đầy lên theo từng đốt, sóng sánh, lấp lánh. Cau lại là loại cây cao nhất nên đó là cây đón những tia nắng đầu tiên của một ngày “nắng mới lên”. “Nắng mới lên” là nắng bắt đầu, nắng ban mai, nắng thiếu nữ, rất thanh khiết, tinh khôi, trong trẻo. Hình ảnh đó còn ẩn chứa một nỗi niềm sâu kín hơn. Trong thơ Hàn Mặc Từ thường rất hay nói đến sự khởi đầu, bắt đầu “Môi tươi thiếu nữ vừa trang điểm/ Nắng mới âm thầm ước kết hôn” (Nắng tươi), “Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu/ Trời mơ trong cảnh thực huyền mơ” (Đà Lạt trăng mờ) như là một khao khát được quay lại, bắt đầu lại cho một cuộc sống khác, một cuộc sống mới. Từ hàng cau, cái nhìn của thi sĩ đã rộng mở đến hình ảnh vườn thôn Vĩ, cũng là một đặc trưng của thôn Vĩ - kết cấu nhà vườn: “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Câu thơ vang lên như một tiếng reo đầy ngạc nhiên, Từ “ai” rất tình tứ, tràn đầy thương nhớ lại bảng lảng sương khói của hoài niệm. Tác giả chọn tả sắc xanh của vườn để làm bật lên sức sống của cảnh vật “Mướt quá xanh như ngọc”. “Mướt” ánh lên vẻ mượt mà, óng ả, xuân sắc. “Quá” đặc tả sự tột đỉnh. Đây là một đặc điểm của thiên nhiên trong thơ Hàn Mặc Tử mang chứa khao khát cuộc đời như một hạnh phúc tột cùng. “Xanh như ngọc” là một hình ảnh so sánh lung linh, màu xanh có ánh sắc, lóng lánh, ngời lên. Vườn thôn Vĩ như một viên ngọc lớn, không chỉ rời rợi sắc xanh mà còn đang toả vào ban mai những ánh xanh nữa. Mảnh vườn đơn sơ bình dị bỗng hiện ra vẻ thanh tú, cao sang, một cái đẹp tột cùng và đầy sức sống. Câu thơ thứ tư là một nét vẽ thần tình: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” gợi nên vẻ đẹp của con người xứ Huế rất phúc hậu, thuần phác, kín đáo, gợi nên sự hài hoà giữa thiên nhiên và con người. Dường như có một đôi mắt lấp lánh phía trên lá trúc, một khuôn miệng cười dịu dàng phía dưới lá trúc. Đó là khuôn mặt của ai? Của người con trai hay con gái? Của người thôn Vĩ hay người trở về thôn Vĩ? Khó mà đoán biết được. Nhưng đặt câu thơ trong dòng vận động cảm xúc của khổ đầu thì có lẽ đó là chân dung tự hoạ của Hàn Mặc Tử chăng? Thi sĩ đã tự vẽ mình trên trang thơ trong chuyến trở về cuộc đời thầm lén, nép ngoài rào trúc mà ngắm vẻ đẹp thần tiên của khu vườn. Giống như một kẻ đứng ngoài với một cái nhìn tha thiết. Cách hiểu này phơi mở một tình yêu mãnh liệt và cũng là một mặc cảm thân phận của Hàn Mặc Tử. Thi sĩ trân trọng cuộc đời biết bao nhiêu, đau thương biết bao nhiêu khi cuộc đời đang vuột ra ngoài tầm tây mình, khi mình chỉ là kẻ ngoài cuộc. Dường như có một khoảng giao thoa giữa quá khứ và hiện tại, hiện thực và nỗi nhớ, khao khát và niềm đau trong câu thơ.

Khổ thơ thứ nhất đã vẽ lại cảnh sắc vườn thôn Vĩ trong sáng, tươi đẹp. Phải có mối ân tình sâu sắc, đậm đà với Vĩ Dạ, thi sĩ mới lưu được trong tâm trí những hình ảnh đẹp đẽ, sống động như thế. Thôn Vĩ cũng là

hình ảnh của một thiên đường trần gian, một thiên đường đã mất đối với Hàn Mặc Tử, thể hiện khao khát cháy bỏng, ước mơ trở về cuộc đời của thi sĩ.

Số trang

(Đề thi có 02 trang)

ĐỀ THI THỬ THPTQG NĂM 2020

CHUẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐỀ 10

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh: .......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

  1. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Học vẹt

Thành ngữ chỉ: Học ra rả, học thuộc làu làu nhưng không hiểu cái gì.

Còn có câu: Học như con vẹt, học như cuốc kêu.

Chuyện kể:

Xưa có một con vẹt được người nuôi, dạy cho nói tiếng người. Con vẹt học được vài ba tiếng, suốt ngày ra rả, lặp đi lặp lại tiếng nói đã bắt chước được, làm huyên náo cả khu vườn. Con vẹt tỏ vẻ hãnh diện, nó mới lên giọng:

    • Từ nay, ta toàn nói bằng tiếng người, chẳng đả động đến tiếng chim nữa.

Loài chim thấy chú vẹt hợm hĩnh mới họp nhau lại bàn cách dạy cho vẹt một bài học. Con sáo nhảy lên cành cây cao gần nơi vẹt ở, nói to lên rằng:

    • Chú vẹt à, bác đây cũng giỏi tiếng người, bác sẽ bày thêm cho chú học thật giỏi để nói chuyện thông

thạo được với người.

Vẹt vui mừng ra mặt. Sáo bèn dạy:

    • Vẹt là tên ngu. Vẹt ngu, vẹt ngu!

Vẹt lặp lại tiếng sáo:

    • Vẹt là tên ngu. Vẹt ngu, vẹt ngu!

Cả bầy chim trong vườn được một trận cười thỏa thích. (…)

Quả là học vẹt thì chẳng hiểu sâu xa cái gì. Thế gian cũng lắm kẻ học vẹt, cố tình bắt chước người

khác mà lại tỏ ra hãnh diện hợm đời, thì cũng đáng thương như con vẹt kia tự chửi mình mà thôi.

(Tiêu Hà Minh, Theo Đi tìm điển tích thành ngữ, NXB Thông tấn 2014)

Câu 1:Văn bản trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào?

Câu 2: Nối ý ở cột A và cột B một cách hợp lý nhất.

A- Phần

1. Thành ngữ chỉ : Học ra rả, học thuộc…

2. Còn có câu : Học như vẹt, học như cuốc kêu

3. Chuyện kể :…

4. Quả là học vẹt thì chẳng hiểu…

Câu 3: Con vẹt đã “đối xử” như thế nào với tiếng chim – ngôn ngữ của giống loài? Và hậu quả nó nhận được là gì ?

Câu 4: Anh/Chị có đồng tình với quan điểm của người viết ở đoạn cuối (in đậm) không ? Vì sao ?

  1. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm):

Nội dung của văn bản đọc – hiểu gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về vấn đề lựa chọn phương pháp học tập.

Hãy trình bày suy nghĩ bằng một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ).

Câu 2 (5,0 điểm):

Đọc tập thơ “Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh, nhà phê bình Hoài Thanh có viết: “Khi Bác nói trong thơ nên có thép, ta cũng cần tìm hiểu thế nào là thép ở trong thơ. Có lẽ phải hiểu một cách linh hoạt mới đúng. Không phải cứ nói chuyện thép, lên giọng mới có tinh thần thép (Tiếng hát tự do - Nhật kí trong tù và những lời bình – NXB Văn hoá thông tin, H, 1997).

Phân tích bài thơ Chiều tối để chứng minh cho nhận định trên. Từ đó, hãy liên hệ với một số tác phẩm thơ trong chương trình Ngữ văn 12 để làm sáng tỏ sự phát huy chất “thép” ở những chiến sĩ cách mạng trong kháng chiến chống pháp.

-------------------- HẾT --------------------

Thí sinh không được sử dụng tài liệu! Phụ huynh, thầy cô và đồng đội vui lòng không giải thích gì thêm.

!xin cảm ơn!

CHÚC CÁC EM LÀM BÀI TỐT!

  1. ĐỌC-HIỂU (3,0 điểm)

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

!

  • Câu hỏi số 1 là câu hỏi đơn giản nhưng thông thường các em hay nhầm sang phong cách ngôn ngữ nghệ thuật vì nhìn thấy có một câu chuyện. Bởi vậy, các em cần chú ý đến mục đích sử dụng của văn bản để xác định chính xác phong cách ngôn ngữ của văn bản. Trong đề bài này, mục đích của văn bản là để giải thích thành ngữ “học vẹt” nên cần xếp vào phong cách ngôn ngữ khoa học.

  • Câu hỏi số 4 là dạng câu hỏi mở, đáp án thông thường cũng sẽ theo hướng mở. Các em cần chú ý bày tỏ

quan điểm của mình một cách chặt chẽ và thuyết phục.

Câu 1 (0,5 điểm):

Phong cách ngôn ngữ khoa học.

Câu 2 (1,0 điểm):

1-C; 2-A; 3-D; 4-E

Câu 3 (0,5 điểm):

    • Con vẹt đã tỏ thái độ coi thường, chối bỏ tiếng chim, chỉ thích nói tiếng người.

    • Hậu quả: Bị bầy chim dạy cho một bài học, tự chửi mình là ngu trong khi lại nghĩ là mình đang nói

tiếng người.

Câu 4 (1,0 điểm):

    • Có thể bày tỏ quan điểm của mình theo nhiều hướng khác nhau: đồng tình, phản đối hoặc vừa đồng

tình, vừa phản đối.

    • Nội dung giải thích yêu cầu hợp lí, thuyết phục, đảm bảo logic.

  1. LÀM VĂN (7,0 điểm):

Câu 1 (2,0 điểm):

!

Đối với đề bài nghị luận về những vấn đề rất gần gũi với các em (ở đây là lựa chọn phương pháp học tập), các em cần chú ý:

  • Không nên trình bày suy nghĩ theo cách thức phát biểu tự do về vấn đề.

  • Có thể đưa ra quan điểm cá nhân nhưng không nên lấy bản thân làm dẫn chứng bài viết.

  1. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn (0,25 điểm)

Có thể trình bày đoạn văn theo nhiều cách: diễn dịch, quy nạp, móc xích, song hành...

  1. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận(0,25 điểm):

Vấn đề lựa chọn phương pháp học tập.

  1. Triển khai vấn đề nghị luận (1,0 điểm):

Có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng cần

làm rõ được vai trò, ý nghĩa của việc lựa chọn phương pháp học tập. Có thể theo hướng sau:

    • Phương pháp học tập là cách thức, định hướng để tiến hành việc học tập đạt hiệu quả cao nhất.

    • Việc lựa chọn phương pháp học tập có vai trò, ý nghĩa quan trọng đối với mỗi người vì học tập là việc làm suốt đời. Trong xã hội hiện đại, khi lựa chọn phương pháp học tập đúng đắn, phù hợp giúp con người đạt được thành tích học tập tốt, tiếp thu được khối lượng kiến thức lớn, đạt được mục đích học tập.

    • Tuy nhiên, để có phương pháp học tốt không phải dễ. Cần tránh việc học tủ, học vẹt mà hướng tới sự

sáng tạo, chủ động.

    • Liên hệ bản thân: có ý thức sâu sắc về vai trò của phương pháp học, nỗ lực tìm kiếm và xây dựng phương pháp học tập hiệu quả.

  1. Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,25 điểm):

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa Tiếng Việt.

  1. Sáng tạo (0,25 điểm):

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

Câu 2 (5,0 điểm)

!

  • Đối với dạng đề bài nghị luận về một ý kiến bàn về văn học, trong ý kiến có xuất hiện yếu tố mâu thuẫn (ở đây là nghị luận về chất thép nhưng lại có yếu tố mâu thuẫn: phủ nhận cách hiểu “chất thép” một cách cứng nhắc mà hướng dạng biểu hiện “ thép ẩn” trong thơ của Hồ Chí Minh), các em cần chú ý:

  • Luận điểm đầu tiên của thân bài vẫn tiến hành giải thích ý kiến như thông thường, tuy nhiên cần tập trung vào yếu tố mâu thuẫn để giải thích triệt để.

  • Trong quá trình phân tích và chứng minh, lấy yếu tố mâu thuẫn làm căn cứ phân chia luận điểm.

  • Phần liên hệ, vì yêu cầu liên hệ với một số tác phẩm nên các em cần chú ý xác định đúng tác phẩm (về người lính trong kháng chiến chống Pháp). Khi viết cần dành một dung lượng phù hợp với một lượng kiến thức phù hợp, không nên quá dài dòng lan man.

  1. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận (0,25 điểm):

Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết bài. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân.

  1. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm):

Phân tích bài thơ “Chiều tối” để làm sáng tỏ cho nhận định về chất thép trong thơ Hồ Chí Minh.

  1. Triển khai vấn đề nghị luận:

Cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp dẫn chứng và lí lẽ.

    1. Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm (0,25 điểm):

Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, cũng là nhà văn, nhà thơ lớn, lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam. “Chiều tối” là bài thơ thứ 31 của tập Nhật kí trong tù. Bài thơ được sáng tác vào cuối mùa thu năm 1942, trên con đường chuyển lao từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo. Bài thơ rất tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thơ Hồ Chí Minh.

    1. Giải thích nhận định (0,25 điểm)

    • Thép ở trong thơ: đó là chất chiến đầu, cách mạng, là tinh thần chiến sĩ, tinh thần cách mạng để đưa thi ca nói riêng và văn học nói chung thành vũ khí đầu tranh cách mạng.

  • Nhưng chất cách mạng và tinh thần chiến sĩ trong thơ đâu phải chỉ có một dạng biểu hiện trực tiếp. Đọc “ Nhật kí trong tù” ta thấy bài nào cũng có “thép”, câu nào cũng có “thép” nhưng nhiều bài thơ không nói đến “thép”, không lên giọng “thép” nghĩa là nói đến chuyện cách mạng, chuyện chiến đấu, lên giọng chiến đầu một cách cứng nhắc. Không nên hiểu “ chất thép” trong thơ nói chung và trong thơ Hồ Chí Minh nói riêng

một cách đơn giản, máy móc. Về điểm này, ý kiến của Hoài Thanh là hoàn toàn xác đáng.

    1. Phân tích bài thơ “Chiều tối” để làm sáng tỏ nhận định (2,0 điểm):

CHÚ Ý

Phân tích bài thơ để làm rõ chất thép:

  • Hai câu đầu:

+ Bề mặt là bức tranh thiên nhiên đậm màu sắc cổ điển ngụ nỗi buồn của con người.

+ Khi đặt bài thơ trong hoàn cách sáng tác có thể thấy vẻ đẹp tâm hồn, ý chí Hồ Chí Minh vươn lên hoàn

cảnh khao khát tự do và yêu say tạo vật.

  • Hai câu sau:

+ Khắc họa bức tranh sinh hoạt đời thường với niềm vui ấm áp.

+ Qua đó thấy được tâm hồn của nhà cách mạng vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt để đồng cảm với niềm vui

đời thường, cái nhìn đầy lạc quan, yêu đời, tình thương mênh mông của Bác.

  • Chất “thép” ở hình tượng người chiến sĩ cách mạng trong một số bài thơ” những người lính đối diện với cuộc sống khó khăn nhưng luôn giàu ý chí, lạc quan, yêu đời.

  • Chiều tối” là bài thơ có chất thép “ẩn”: không nói chuyện thép, lên giọng thép nhưng khi đặt vào hoàn cảnh ra đời của thi phẩm (trong lao tù, trên đường chuyển lao nhọc nhằn); nhìn sâu vào mạch vận động của hình tượng thơ sẽ thấy bài thơ lấp lánh chất thép.

  • Hai câu đầu:

+ Hai câu thơ là bức tranh thiên nhiên nơi núi rừng lúc chiều tối, ngụ nỗi buồn của con người trên đường chuyển lao. Cũng giống như trong thơ cổ phương Đông, bức tranh thiên nhiên ở đây được vẽ nên bằng những nét chấm phá. Nhà thơ không nghiêng về tả mà gợi ra vài nét, cốt ghi lấy cái linh hồn của tạo vật. Toàn bộ khung cảnh thiên nhiên miền sơn cước và cái hồn buồn hiu hắt của núi rừng lúc chiều muộn hiện ra một cách đơn sơ qua cách chim mỏi mệt đang bay về tổ cùng áng mây lẻ loi, trôi lững lờ giữa tầng không.

+ Đặt trong hoàn cảnh của một người tù, bị giải đi từ lúc “Gà gáy một lần đêm chưa tàn”, phải hứng chịu “Rát mặt đêm thu trận gió hàn”, trải qua “53 cây số một ngày/ Áo mũ dầm mưa rách hết giày”, trong tình cảnh “xiềng xích thay dây trói” thì hai câu thơ còn có một chiều sâu khác, chiều sâu của tâm hồn, ý chí Hồ Chí Minh. Dù gian khổ thế nào, tâm hồn Bác vẫn luôn hướng về thiên nhiên, trìu mến dõi theo chuyển động của tạo vật. Đằng sau cái nhìn ấy, cháy bỏng và khắc khoải một ước mong sum họp, một khao khát tự do. Đau đớn và mệt mỏi là vậy mà cảm hứng thơ vẫn đến với Bác. Không có chân dung người tù khổ ải mà chỉ có dáng vẻ ung dung, thư thái của một tao nhân mặc khách đang thưởng ngoạn cảnh, yêu say vẻ đẹp thiên nhiên mà thôi.

  • Hai câu cuối:

+ Hai câu thơ khắc họa bức tranh sinh hoạt đời thường nơi xóm núi. Hình ảnh cô gái xay ngô toát lên vẻ trẻ trung, khỏe mạnh, sống động – một hình ảnh chân thực, rất đời thường và rất đáng trân trọng. Thời gian dang dần trôi theo những vòng quay xay ngô, Không gian ở câu thơ thứ tư ngày càng được thu nhỏ lại, Từ cảnh trời mây bao la đến cảnh cô gái xay ngô và cuối cùng là hình ảnh bếp lửa hồng. Bếp lửa hồng đã làm đêm tối bừng sáng ấm áp.

+ Cô gái, bếp lửa gợi tới cảnh gia đình, ngô hạt xay xong, bếp đỏ lên gợi tới công việc, sự nghĩ ngơi và sum họp – thấp thoáng trong nhưng hình ảnh ấy như có một ước mơ thầm kín về mái ấm gia đình của người đang lưu lạc xa nhà, xa đất nước, quê hương. Đấy là tâm hồn nhà cách mạng đã vượt lên hoàn cảnh

khắc nghiệt để đồng cảm với niềm vui giữa đời thường.

+ Bài thơ đã vận động từ ánh chiều u ám, tăm tối đến ánh lửa hồng và niềm vui. Nó cho thấy cái nhìn đầy niềm lạc quan yêu đời và tình yêu thương nhân dân của một con người “Nâng niu tất cả chỉ quên mình”. Chữ “hồng” trong bài thơ không chỉ là hình ảnh ngọn lửa mà đó là hình ảnh của ý chí, tinh thần cách mạng Hồ Chí Minh. Đây chính là chất thép chìm, nhìn kĩ mới thấy được ánh sáng của nó nhưng càng nhìn lâu càng thấy sáng.

    1. Đánh giá, bình luận ý kiến (0,25 điểm):

      • Ý kiến rất xác đáng, là sự đánh giá đúng đắn và khoa học đối với giá trị thơ ca Hồ Chí Minh nói riêng và bài thơ “Chiều tối” nói chung. Đây là một định hướng giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn về thơ ca Hồ Chí Minh.

      • Chiều tối” là bức tranh thiên nhiên miền sơn cước và bức tranh cuộc sống lao động của con người. Bài thơ khắc họa hình tượng nhân vật trữ tình có tấm lòng yêu thương rộng lượng, tâm hồn lạc quan luôn hướng về tương lai và ánh sáng, ý chỉ mạnh mẽ vượt lên hoàn cảnh, tự do về tinh thần. Bài thơ không hề lên giọng thép nhưng chất thép vẫn ngời lên sau hình ảnh thơ.

    2. Liên hệ để làm sáng tỏ sự phát huy chất thép ở những chiến sĩ cách mạng trong kháng chiến chống

Pháp (0,75 điểm):

      • Hình tượng người lính Tây Tiến trong bài thơ “Tây Tiến” và người cán bộ cách mạng về xuôi trong bài

thơ Việt Bắc đều là hình tượng tiêu biểu cho người chiến sĩ cách mạng trong kháng chiến chống Pháp.

      • Họ đã sống và chiến đầu trong điều kiện thiếu thốn, gian khổ, nguy hiểm luôn rình rập, phải đối diện với những mất mát, hi sinh (Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm/ Anh bạn dãi dầu không bước nữa/ Gục lên súng mũ bỏ quên đời…Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù/Nghìn đêm thăm thẳm sương dày)

      • Tuy nhiên, họ luôn hiên ngang, giàu ý chí để vượt lên mọi khó khăn, gian khổ, coi thường khó khăn gian khổ, rất lạc quan, yêu đời (chú ý chọn lọc phân tích một số câu thơ như: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc/ Quân xanh màu lá dữ oai hùm/ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh…Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo/ Đèn pha bật sáng như ngày mai). Họ đi vào cõi bất tử với tư thế của sự chủ động, bị mà không lụy, bi mà vẫn hào hung (Áo bào thay chiếu anh về đất/ Sông Mã gầm lên khúc độc hành); họ luôn sẵn sàng ra trận với tư thế hào hùng, mang khát vọng độc lập của 40 thế kỉ (Quân đi điệp điệp trùng trùng/ Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan…). Đó là tinh thần thép, là sự phát huy chất thép ngời sáng để làm nên vẻ đẹp của anh bộ đội cụ Hồ.

  1. Chỉnh tả, dùng từ, đặt câu (0,25 điểm):

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa Tiếng Việt.

  1. Sáng tạo (0,5 điểm):

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

Phần I – Câu 1:

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bàn về vai trò của phương pháp học tập

Cuộc sống chứa đựng kho tàng kiến thức mà ta sẽ chẳng bao giờ lĩnh hội hết được. Vì vậy, đa số học sinh chỉ chuyên một môn học hay mỗi người chỉ chuyên một ngành, một loại công việc nhất định. Dù làm bất cứ công việc nào, con người cũng cần năng động, sáng tạo, học và rành rẽ phương pháp. Chẳng hạn, nghề nông là nghề truyền thống của nước ta, những người nông dân ngày ngày ra đồng trồng lúa cũng luôn luôn tìm hiểu và cần phương pháp mới, từ việc cải tạo giống lúa đến các nông cụ sản xuất. Đó là những phát minh tưởng chừng như đơn giản nhưng lại có ý nghĩa quan trọng. Hay nhưng người công nhân bình thường làm trong các nhà máy, xí nghiệp cũng phải luôn luôn tìm tòi và đưa ra những đề án, phương pháp mới để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm hay tạo ra được những sản phẩm mới hơn.

Sống trong một xã hội phát triển, cuộc sống ngày càng nâng cao – con người không ngừng lao động, lao động chân tay, lao động trí óc, muốn có hiệu quả, tất phải có phương pháp làm việc tốt. Phương pháp học sẽ là nền tảng vững chắc cho những bước phát triển tiếp theo. Học phương pháp học giống như học những kĩ năng đầu tiên mà người thợ phải làm khi bắt tay xây dựng một tòa nhà – tạo dựng nền móng kiên cố để xây các tầng lầu cao hơn. Học phương pháp học cũng thế. Nó tiếp bước cho sự thăng hoa những gì nâng cao hơn, khó hơn đối với bạn. Một học sinh khi đã có phương pháp học tất việc lĩnh hội kiến thức sẽ dễ dàng, việc học đối với họ không còn là gánh nặng đeo bám họ suốt mười mấy năm trời. Chính phương pháp học sẽ làm vũ khí lợi hại giúp họ tiến xa hơn trong tương lai.

Trái đất quay, cuộc sống quay và kiến thức cũng dồi dào thêm. Tất cả đều vận động không ngừng. Chính vì vậy, kiến thức mà ta có được ngày hôm nay sẽ mau chóng lỗi thời nhanh hơn ta nghĩ. Thế nên, nhu cầu cập nhật thông tin, thu thập kiến thức luôn luôn cần thiết. Song, không phải ai cũng đủ điều kiện để đến trường, đến lớp, dễ dàng tìm đến với internet, sách báo,…Vì thế, tự học là phương pháp tối ưu với nhiều người trong việc thu nhận kiến thức. Và, rõ ràng, chỉ những người có phương pháp học tốt mới thực sự thành công.

Tuy nhiên, để có phương pháp học tập tốt không phải dễ. Từ rất lâu, nhiều người vẫn có thói quen học vẹt, học tủ khiến cho không những việc thu thập kiến thức bị đóng khuôn mà sự sáng tạo cái mới, tự khám phá tri thức ở mỗi người cũng dần trở nên thui chột. Ngay trong nhà trường phổ thông, lỗi học vẹt, học tủ vẫn còn khá nặng nề. Bởi vậy, mỗi học sinh phải hết sức ý thức về điều đó nhằm tìm kiếm cho mình cách học hiệu quả hơn trong bối cảnh tri thức hiện đại đang bùng nổ.

Trên đời, mọi thứ đều có quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong đó, kiến thức và phương pháp học cũng liên quan mật thiết, thậm chí luôn song hành với nhau. Hãy thử nghĩ, nếu ta có phương pháp học nhưng lại thiếu kiến thức tất việc học cũng chẳng đến đâu. Trái lại, nếu ta có kiến thức mà thiếu phương pháp học thì không phải vô ích sao!

Nhận thức được sự cần thiết và quan trọng của phương pháp học, chúng ta nhất thiết phải thực hiện được một kết quả học tập tốt. Trên con đường tìm kiếm sự hiểu biết, nhận định của Phrit-men sẽ là bài học hữu ích cho mỗi chúng ta khám phá ra một cách học và phương pháp lao động tốt nhất.

Phạm Kim Anh (vanhọc.edu.vn)

Phần II – Câu 2:

Chất thép trong hai câu đầu

Hai câu đầu phác lên một khung cảnh thiên nhiên nơi núi rừng lúc chiều tối. Có cánh chim chiều mỏi mệt đang bay về tổ, có chòm mây lẻ loi trôi giữa từng không. Một không gian rộng lớn quạnh vắng trong cái thời khắc cuối cùng của một ngày. Cũng giống như trong thơ cổ phương đông, bức tranh thiên nhiên ở đây được vẽ nên bằng những nét chấm phá. Nhà thơ không nghiêng về tả mà gợi ra vài nét cốt ghi lấy cái linh hồn của tạo vật. Toàn bộ khung cảnh thiên nhiên miền sơn cước và cái hồn buồn hiu hắt của núi rừng lúc chiều muộn hiện ra một cách đơn sơ qua cánh chim mỏi mệt đang bay về tổ cùng áng mây lẻ loi, trôi lững lờ giữa tầng không. Hình ảnh cánh chim bay về tổ thường mang ý nghĩa biểu tượng cho buổi chiều tà. Từ trong ca dao đã có “Chim bay về núi tối rồi”, đến “Truyện Kiều” cánh chim mang theo cả thời gian và tâm trạng “Chim hôm thoi thót về rừng”, cánh chim nhỏ bé “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi” trong thơ Bà Huyện Thanh Quan, buổi chiều nghiêng theo cánh chim trong “Tràng giang” của Huy Cận “Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”. Trong thơ Bác cũng thế “Quyện điều quy lâm tầm túc thụ” vừa là một nét không gian lại vừa gợi ra ý niệm thời gian. Mặc dù vậy, cánh chim trong thơ Bác không chỉ được quan sát ở trạng thái vận động bên ngoài, không bay về chốn vô tận, vô cùng gợi cảm giác xa xăm, chia lìa như thơ xưa mà còn được cảm nhận rất sâu sắc ở trạng thái vận động bên trong (cánh chim mỏi mệt – quyện điểu), đó là cánh chim tìm về sự sống thường ngày. Nó có hồn và nhuốm đầy tâm trạng hơn. Có thể thấy sự gần gũi tương đồng giữa cánh chim mỏi mệt sau một ngày kiếm ăn và người tù đã thấm mệt sau một ngày vất vả, lê bước trên đường trường. Ngoại cảnh cũng là tâm cảnh. Trong ý thơ đã có sự hòa hợp, đồng điệu, cảm thông giữa tâm hồn nhà thơ và cảnh vật thiên nhiên. Cội nguồn của sự cảm thông ấy là tình yêu thương mênh mông của Bác dành cho mọi sự sống trên đời.

Câu thơ thứ hai, bản dịch đánh mất chữ “cô”, không diễn tả được vẻ cô độc và nhịp bay chầm chậm của chòm mây qua những chữ “cô vân mạn mạn”. Câu thơ cần được hiểu đúng nghĩa là “Chòm mây lẻ loi lững lơ trôi qua lưng trời”. Hình ảnh này gợi nhớ thơ Thôi Hiệu “Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay” (Hoàng Hạc Lâu), thơ Nguyễn Khuyến “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” (Thu điếu). Tuy cũng vẫn là thi liệu “vân” – mây nhưng trong thơ Bác không phải là mây trắng ngàn năm gợi sự vĩnh hằng, cũng không phải là “tầng mây lơ lửng” giữa trời xanh ngắt như có gì nhức nhối, mang bao nỗi khắc khoải mơ hồ của con người trước hư không. Đây chỉ là một chòm mây quen thuộc trên bầu trời, nó thu vào đó hình ảnh cao rộng trong trẻo, êm ả của một chiều thu nói núi rừng Quảng Tây. Với chòm mây ấy, không gian như mênh mông, vô tận và thời gian như ngừng trôi. Phải có một tâm hồn thật ung dung, thư thái – tâm hồn của một du khách

  • thì người tù mới có thể dõi theo một chòm mây lang thang giữa bầu trời bao la. Hơn thế, chòm mây còn như có hồn người, nó mang theo tâm trạng, nó cô đơn, lẻ loi và lặng lẽ, lững lờ trôi giữa không gian trời chiều, nó mang nỗi buồn trong cảnh ngộ chia lìa: cánh chim mải miết bay về rừng xanh, chòm mây trôi chầm chậm như ở lại giữa từng không.

Bức tranh thiên nhiên ngụ nỗi buồn của con người trên đường vẫn chưa phải là tất cả ý nghĩa, vẻ đẹp của hai câu thơ này. Đặt trong hoàn cảnh của một người tù, bị giải đi từ lúc “Gà gáy một lần đêm chưa tàn”, phải hứng chịu “Rát mặt đêm thu trận gió hàn”, trải qua “53 cây số một ngày/Áo mũ dầm mưa rách hết giày”, trong tình cảnh “xiềng xích thay dây trói” thì hai câu thơ còn có một chiều sâu khác, chiều sâu của tâm hồn, ý chí Hồ Chí Minh. Dù gian khổ thế nào, tâm hồn Bác vẫn luôn hướng về thiên nhiên, trìu mến dõi theo chuyển động của tạo vật. Đằng sau cái nhìn ấy, cháy bỏng và khắc khoải một ước mong sum họp, một khao khát tự do. Đau đớn và mệt mõi là vậy mà cảm hứng thơ vẫn đến với Bác. Không có chân dung người tù khổ

ải mà chỉ có dáng vẻ ung dung, thư thái của một tao nhân mặc khách đang thường ngoạn cảnh yêu say vẻ đẹp

thiên nhiên mà thôi.

Những câu thơ mềm mại nhưng thực ra lại có chất thép bên trong. Bằng ý chí, nghị lực phi thường, Bác đã vượt lên trên hoàn cảnh. Dẫu đang mất tự do về thân thể, Bác vẫn tự do tuyệt đối về tinh thần “tự do lãm thưởng vô nhân cấm” (Tự do thưởng ngoạn ai ngăn được). Như vậy hai câu thơ không hề nói “thép” mà lại rất “thép”.

Số trang

(Đề thi có 02 trang)

ĐỀ THI THỬ THPTQG NĂM 2020

CHUẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐỀ 11

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh: .......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

  1. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi:

    1. Với chủ đề “Tài năng trẻ Việt Nam chung tay dựng xây đất nước”, sáng 13/12, 364 đại biểu tài năng trẻ toàn quốc đã tham dự Đại hội Tài năng trẻ lần thứ 2 năm 2015. Tại Đại hội các đại biểu tài năng trẻ đã cùng nhau truyền đi thông điệp thể hiện lòng quyết tâm, đoàn kết, chung sức, đồng lòng dựng xây và bảo vệ đất nước trong thời kỳ Công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế.

    2. Làm nghiên cứu khoa học vốn đã khó, đối với người phụ nữ lại càng khó khăn hơn nhưng vì cái tâm và khát khao được đóng góp cho xã hội đã giúp tôi tiếp tục say mê nghiên cứu”. Đó là những chia sẻ của Thạc sỹ Trương Hải Nhung, Khoa Sinh học và Công nghệ sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh – một nhà khoa học trẻ có niềm đam mê nghiên cứu trong lĩnh vực công nghệ sinh học và tế bào gốc. Trong suốt thời gian nghiên cứu về lĩnh vực tế bào gốc, Thạc sĩ Trương Hải Nhung đã có 12 báo cáo tại hội nghị/hội thảo quốc tế; 8 bài đăng trên báo/tạp chí trong nước; 14 bài đăng trên tạp chí quốc tế; 9 Đề tài đã và đang làm chủ nhiệm… Thạc sĩ Trương Hải Nhung bày tỏ: “Tôi nghĩ là Bộ Khoa học và Công nghệ cũng như lãnh đạo Đảng và Nhà nước nên suy nghĩ thêm để có thể triển khai nhanh, mạnh hơn, quyết liệt hơn những chính sách, đề án, chương trình, nghị định thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, hỗ trợ tài năng trẻ. Đối với một người trẻ như tôi thì chỉ mong mỏi một điều đó là các cơ quan, ban ngành đặc biệt là các Bộ hãy mạnh dạn tin tưởng vào những người trẻ, cứ tin thì lớp trẻ có thể cố gắng làm hết sức để xứng đáng với niềm tin ấy”.

(…) (3) Dù ở bất cứ thời đại nào thì hiền tài luôn là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí mạnh thì nước mới mạnh. Tài năng trẻ nói chung, nhà khoa học trẻ, trí thức trẻ nói riêng là tài nguyên quan trọng để phát triển đất nước. Các chính sách của nhà nước, sự quan tâm, tạo điều kiện, tin tưởng của các cấp lãnh đạo chính là môi trường thuận lợi nhất để các tài năng trẻ phát huy được năng lực, trí tuệ, thỏa mãn đam mê, khát vọng của mình để phục vụ đất nước./.

(Nguyễn Hiền – Tài năng trẻ mong muốn được quan tâm nghiên cứu khoa học –

vov.vn 14/12/2015)

Câu 1: Nêu nội dung đoạn văn bản.

Câu 2: Đoạn văn (3) sử dụng thao tác lập luận chủ yếu nào?

Câu 3: Một người trẻ tuổi tài năng – Thạc sỹ Trương Hải Nhung cho rằng “Các cơ quan, ban ngành đặc biệt là các Bộ hãy mạnh dạn tin tưởng vào những người trẻ, cứ tin thì lớp trẻ có thể cố gắng làm hết sức để xứng đáng với niềm tin ấy”. Là một người trẻ, anh/chị có đồng tình với quan niệm đó không? Vì sao?

Câu 4: Hãy nêu ít nhất hai biện pháp để rèn luyện và phát triển bản thân, góp phần phục vụ đất nước.

  1. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm): Vai trò của những tài năng trẻ đối với Tổ quốc gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về vấn đề “chảy máu chất xám” của đất nước ta hiện nay. Hãy trình bày suy nghĩ bằng một đoạn văn ngắn khoảng 200

chữ.

Câu 2 (5,0 điểm):

Hỡi đồng bào cả nước,

Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm

phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói:

Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước

ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi

của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ

xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

(Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh – SGK Ngữ văn 12 tập Một)

Phân tích đoạn văn bản trên để làm sáng tỏ ý kiến: “Tuyên ngôn độc lập là áng văn chính luận mẫu mực”.

-------------------- HẾT --------------------

Thí sinh không được sử dụng tài liệu! Phụ huynh, thầy cô và đồng đội vui lòng không giải thích gì thêm.

!xin cảm ơn!

CHÚC CÁC EM LÀM BÀI TỐT!

  1. ĐỌC-HIỂU (3,0 điểm)

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

!

  • Đối với dạng câu hỏi số 3, các em có thể bày tỏ quan điểm theo góc nhìn cá nhân, có thể đồng tình hoặc phản đối. Tuy nhiên cần đặc biệt chú ý, cần cân nhắc trả lời như thế nào để dễ dàng lí giải và có thể đưa ra được những lí lẽ có tính thuyết phục cao.

  • Đối với câu hỏi 4, khi đưa ra biện pháp, các em nên đưa những giải pháp thiết thực mà em đã thực hiện được hoặc đang thực hiện, tránh nêu chung chung, đưa ra những giải pháp viển vông, lớn lao, quá tầm với các em.

Câu 1 (0,5 điểm):

Nội dung: Sự kiện Đại hội Tài năng trẻ toàn quốc năm 2015 và sự khẳng định vai trò của những tài năng đối với đất nước.

Câu 2 (0,5 điểm):

Thao tác lập luận chủ yếu: so sánh.

Câu 3 (1,0 điểm):

Có thể trình bày quan điểm riêng của cá nhân: đồng ý, không đồng ý hoặc vừa đồng tình vừa không đồng

tình.

Cần lí giải vì sao một cách logic, hợp lí, thuyết phục.

Câu 4 (1,0 điểm):

Cần nêu được những biện pháp cụ thể, gần gũi, thiết thực, họp lí. Một số gợi ý:

    • Xây dựng cách làm việc, học tập khoa học, hiệu quả.

    • Tích cực tham gia vào các hoạt động cộng đồng, các hoạt động xã hội, quan tâm, chia sẻ đến những người xung quanh.

    • Có ý thức tìm kiếm niềm dam mê, phát huy khả năng trong những lĩnh vực mà mình yêu thích.

  1. LÀM VĂN (7,0 điểm):

Câu 1 (2,0 điểm):

!

Yêu cầu nghị luận ở đề này là một vấn đề đã đặt ra từ lâu và cho đến giờ vẫn đang gây bức xúc trong dư luận

xã hội. Tuy nhiên, nếu trong trường hợp các em chưa thực sự hiểu rõ về vấn đề nghị luận thì cần chú ý:

  • Đảm bảo đầy đủ các bước làm bài, cố gắng giải thích vấn đề một cách chính xác nhất dựa vào cách hiểu từ ngữ thông thường (chất xám: chỉ trí tuệ, chảy máu chất xám: sự mất mát…

  • Phần nêu thực trạng có thể các em không nêu được cụ thể, nhưng dựa trên giải thích và phán đoán cùng với nội dung văn bản Đọc – hiểu để đưa ra được một số hậu quả và đề xuất giải pháp.

  • Tuyệt đối tránh tình trạng do chưa hiểu rõ vấn đề nghị luận mà bỏ qua câu nghị luận xã hội hoặc viết câu

nghị luận xã hội không đảm bảo dung lượng.

  1. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn (0,25 điểm)

Có thể trình bày đoạn văn theo nhiều cách: diễn dịch, quy nạp, móc xích, song hành...

  1. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận(0,25 điểm):

Nạn “chảy máu chất xám” ở nước ta hiện nay.

  1. Triển khai vấn đề nghị luận (1,0 điểm):

Có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng cần làm rõ được quan điểm, đánh giá về tình trạng “chảy máu chất xám” ở nước ta trong thời gian vừa qua. Có thể theo hướng sau:

    • Đoạn văn đã khẳng định vai trò quan trọng của những người tài năng đối với đất nước. Điều đó đã gợi

nên suy nghĩ về tình trạng “chảy máu chất xám” trong thời gian vừa qua ở nước ta.

    • Hiện tượng “chảy máu chất xám” đó là hiện tượng nhiều người tài năng được cấp học bổng đi học nước ngoài không trở về, không trực tiếp phục vụ cho Tổ quốc; nhiều người tài giỏi trong các lĩnh vực chọn định cư ở nước ngoài hoặc làm cho doanh nghiệp nước ngoài. Hiện tượng này đang diễn ra tương đối phổ biến, gây bức xúc cho dư luận (dẫn chứng).

    • Hiện tượng này đã kéo lùi sự phát triển của đất nước, sự phát triển của nhiều lĩnh vực khoa học, gây tổn hại cho Nhà nước. Đặc biệt, nó tạo ra sự ảnh hưởng tiêu cực tới các bạn trẻ, đánh giá thấp môi trường làm việc trong nước.

    • Cần phê phán, lên án những con người đó. Đồng thời cần có nhiều chủ trương biện pháp tích cực hơn để

phát triển, bồi dưỡng nhân tài, tạo điều kiện cho người tài năng làm việc, hạn chế tình trạng trên.

    • Liên hệ bản thân: Bản thân có ý thức như thế nào đối với cộng đồng, đất nước; bản thân thể hiện tinh

thần học hỏi, lao động như thế nào…

  1. Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,25 điểm):

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa Tiếng Việt.

  1. Sáng tạo (0,25 điểm):

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

Câu 2 (5,0 điểm)

!

Khi thực hiện làm bài đối với đề bài nghị luận về một ý kiến bàn về một tác phẩm chính luận, sử dụng một phần tác phẩm để làm sáng tỏ, các em cần chú ý:

  • Luôn lưu ý đến đặc trưng của thể văn chính luận và đặc trưng của phong cách ngôn ngữ chính luận (bàn đến

các vấn đề chính trị - xã hội quan trọng, lập luận chặt chẽ, tính thuyết phục cao,…)

  • Bám sát vào văn bản, đặc biệt là cách thức sử dụng từ ngữ, xây dựng luận điểm, đưa dẫn chứng và lí lẽ.

  • Xem xét giá trị của tác phẩm gắn với hoàn cảnh mà nó ra đời.

  1. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận (0,25 điểm):

Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết bài. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân.

  1. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm):

Tính “chính luận mẫu mực” trong đoạn văn mở đầu của bản Tuyên ngôn độc lập.

  1. Triển khai vấn đề nghị luận:

Cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp dẫn chứng và lí lẽ.

    1. Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm (0,5 điểm):

Hồ Chí Minh là nhà cách mạng vĩ đại của Việt Nam, là danh nhân văn hóa thế giới. Cuộc đời Người là

tấm gương sáng về sự cống hiến, hi sinh. Mặc dù chỉ coi thơ văn là vũ khí chiến đấu cách mạng, Hồ Chí

Minh vẫn để lại một di sản văn học vô cùng quý báu. Tuyên ngôn độc lập là tác phẩm bất hủ góp phần, tuyên bố sự khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ công hòa trên quảng trường Ba Đình vào ngày 02/09/1945 Tác phẩm đã đạt đến trình độ mẫu mực của thể văn chính luận.

    1. Giải thích ý kiến (0,5 điểm)

      • Chính luận là loại văn bản thể hiện chính kiến, bộc lộ những quan điểm chính trị, tư tưởng với những vấn đề xã hội nóng bỏng. Các tác phẩm chính luận hướng tới mục đích tác động đến dư luận xã hội đương thời, đến lối sống, các quyền lợi chính trị hiện hành; đề xuất việc củng cố hoặc thay đổi chúng cho phù hợp với quyền lợi giai cấp hoặc với lý tưởng xã hội, đạo đức. Mẫu mực: là một chuẩn mực, đạt đến trình độ cao nhất, để người khác noi theo.

      • Ý kiến đã khẳng định giá trị lớn lao của bản Tuyên ngôn độc lập: tác phẩm đạt đến sự chuẩn mực trong thể văn chính luận, tức là có sức thuyết phục lớn lao dựa trên lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, dẫn chứng hùng hồn..

    2. Phân tích đoạn văn để làm sáng tỏ ý kiến (2,0 điểm):

CHÚ Ý

Tính chính luận mẫu mực trong đoạn văn:

  • Sự mẫu mực ở phương diện nội dung: khẳng định thuyết phục quyền bình đẳng, quyền sống, quyền sung

sướng và quyền tự do của dân tộc ta; là bản cáo trạng đanh thép đối với kẻ thù.

  • Sự mẫu mực ở phương diện nghệ thuật: lí lẽ đanh thép, tư duy lí luận sáng tạo, lập luận chặt chẽ, phối hợp sử dụng nhuần nhuyễn nhiều thủ pháp nghệ thuật.

  • Sự mẫu mực ở giá trị nội dung:

+ Đoạn văn khẳng định một cách thuyết phục quyền bình đẳng, quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do của dân tộc ta cũng như các dân tộc khác trên thế giới tạo cơ sở, nguyên lí chính nghĩa cho bản Tuyên ngôn:

Hồ Chí Minh đồng tình với những tư tưởng tiến bộ của các bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ngang hàng ba cuộc cách mạng, ba bản Tuyên ngôn của nước Việt Nam, Mỹ, Pháp nhằm quốc tế hoá vấn đề độc lập của dân tộc ta.

Đoạn văn muốn gợi lại niềm tự hào cao cả của lịch sử dân tộc Việt Nam về các triều đại: Đinh, Lý, Trần, cùng sánh vai với các triều đại Hán, Đường, Tống, Nguyên đã được Nguyễn Trãi ghi trong Bình Ngô Đại Cáo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm chuẩn bị phê phán bản chất phản động của thực dân Pháp đi ngược lại tư tưởng tiến bộ của tổ tiên họ đã 80 năm qua chúng đến cướp nước ta, áp bức đồng bào ta.

+ Đoạn văn cũng là bản cáo trạng đanh thép với tội ác của thực dân Pháp ở Đông Dương:

Người đã mạnh mẽ vạch trần bản chất lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái để cướp nước ta, áp bức đồng bào ta của chúng. Đó là hành động phi nghĩa, phi nhân đạo. Người đã nêu lên một cách toàn diện tội ác của thực dân Pháp đối với đất nước ta trong gần 100 năm:

++ Bóc lột về kinh tế: chúng bóc lột nhân dân ta tới tận xương tuỷ, cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu; độc quyền in giấy bạc và xuất nhập cảng; đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí, không cho các nhà tư sản của ta ngóc đầu dậy...

++ Đàn áp về chính trị: chúng tuyệt đối không cho chúng ta một chút quyền tự do nào, chúng thi hành

pháp luật dã man, chia để ctrị, chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong bể máu...

++ Nô dịch về văn hoá: chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học, thi hành chính sách ngu dân, dùng

thuốc phiện, rượu cồn để làm suy nhược giống nòi...

Tội ác của chúng gây ra ở mọi mặt của đời sống, ở mọi đối tượng nông dân, công nhân, thợ thủ công. Đó là

tội ác chồng chất, tội ác khủng khiếp, dã man.

  • Sự mẫu mực trên phương diện nghệ thuật:

+ Phần đầu (Hỡi đồng bào cả nước...không ai chối cãi được):

++ Hồ Chí Minh đã dẫn chứng chính xác, từ ý tưởng lời văn hai bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp để tạo cơ sở pháp lý, dùng lời nói của đối phương để so sánh, phản bác âm mưu và hành động trái với công lý của chúng, dùng nghệ thuật “gậy ông đập lưng ông”.

++ Đoạn văn dùng lý lẽ đanh thép, tư duy lý luận sáng tạo “suy rộng ra”, đi từ vấn đề quyền cá nhân đến quyền của dân tộc, đưa vấn đề độc lập của dân tộc Việt Nam thành vấn đề tiêu biểu cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.

++ Lập luận của đoạn văn chặt chẽ bằng cách sử dụng nhiều câu văn khẳng định để phủ định những nội

dung phản động của hai đế quốc Mỹ và Pháp.

++ Lời văn mạnh mẽ, trong sáng, dễ hiểu, làm tăng thêm sức thuyết phục bằng lý lẽ của đoạn văn.

+ Bên cạnh đó, ở phần tiếp theo:

++ Người nhắc đi nhắc lại những tội ác khác nhau của chúng bằng các điệp ngữ, điệp cấu trúc và động từ mạnh: chúng thi hành ... chúng lập ra ... chúng chém giết ... chúng tắm ... chúng ràng buộc ... chúng dùng ... chúng độc quyền ... chúng không cho ... chúng bóc lột...

++ Giọng điệu đanh thép liên hoàn, trùng điệp làm nổi bật lên tội ác chồng chất của thực dân Pháp.

++ Thủ pháp so sánh, ẩn dụ được vận dụng khéo léo để tô đậm nét những tội ác dã man của thực dân Pháp.

++ Tách các ý thành các đoạn văn ngắn tạo nên những điểm nhấn, gây ấn tượng về tội ác liên hoàn, tội

ác nào cũng to lớn, khủng khiếp.

    1. Đánh giá, bình luận (0,5 điểm):

      • Ý kiến có tính chất định hướng, giúp người đọc có cơ sở để tìm hiểu sâu sắc về tác phẩm Tuyên ngôn

độc lập.

      • Đoạn văn tiêu biểu cho nghệ thuật viết văn chính luận của Hồ Chí Minh; góp phần tạo nên sức thuyết phục và ý nghĩa sâu sắc của bản Tuyên ngôn độc lập.

  1. Chỉnh tả, dùng từ, đặt câu (0,25 điểm):

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa Tiếng Việt.

  1. Sáng tạo (0,5 điểm):

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

Phần II – Câu 1:

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bàn về hiện tượng “chảy máu chất xám”

Nhiều năm qua, “chảy máu chất xám” được coi là một hiện tượng phức tạp, buộc nhiều quốc gia cần xem xét và điều chỉnh, từ đó có chính sách, biện pháp khắc phục. Bởi, dù thế nào thì trong thế giới hiện đại, sự phát triển của mỗi quốc gia luôn cần tới vai trò của tri thức, trí tuệ. Ở đây, vấn đề đặt ra cho mỗi người lao động trí óc là tâm nguyện cống hiến cho Tổ quốc, là sự đồng cảm và chia sẻ với những khó khăn của đất nước; bên cạnh đó là vai trò của Nhà nước trong việc tạo điều kiện tốt nhất để các chủ nhân của “chất xám” sống và cống hiến một cách tốt nhất.

Có một câu hỏi đặt ra, liệu tình trạng chảy máu chất xám có phải chỉ giới hạn trong một hiện tượng có thể nhìn thấy được nói trên? Đầu năm 2012, Bộ Giáo dục và Đào tạo nước ta đã tổng kết hơn mười năm hoạt động của Đề án 322, một đề án được hình thành vào năm 2000 với mục tiêu là đào tạo cán bộ tại những cơ sở giáo dục nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước với những ngành mà Việt Nam thiếu hoặc chất lượng chưa đạt chuẩn quốc tế. Trong mười năm hoạt động của Đề án, với một nguồn ngân sách hơn 2.500 tỷ đồng (theo nguồn công bố của Bộ Giáo dục và Đào tạo), 7.129 ứng viên trúng tuyển đã được gửi đi đào tạo ở các cơ sở giáo dục tiên tiến tại nhiều nước trên thế giới, trong đó có 3.838 tiến sĩ, 2.042 thạc sĩ, 416 thực tập sinh và 833 cử nhân. Cũng theo nguồn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, 95% số lưu học sinh đã về nước đúng thời hạn và đã hoàn thành nhiệm vụ đào tạo, 2% số lưu học sinh được chuyển tiếp lên các cấp học cao hơn, và chỉ có 3% là không hoàn thành nhiệm vụ, trở về muộn hoặc không trở về.

Tuy vậy, ngay khi Đề án khép lại, có một vấn đề đã được đặt ra một cách nghiêm túc, là hiệu quả hoạt động nghiên cứu của lưu học sinh sau khi trở về đơn vị công tác cũ. Các con số thống kê mới chỉ nói về việc lưu học sinh hoàn thành nhiệm vụ và trở về, mà chưa có một nghiên cứu đầy đủ và nghiêm cẩn về hiệu quả hoạt động khoa học của các nghiên cứu sinh này (ít nhất là thông qua những công trình khoa học, phát minh và nghiên cứu khoa học công bố quốc tế, một nguồn dữ liệu hoàn toàn có thể kiểm chứng được). Theo điều tra của một số tờ báo, không ít nghiên cứu sinh sau khi trở về đã phải từng bước “hoãn vô thời hạn” hoặc rời bỏ hẳn hoạt động nghiên cứu khoa học vì nhiều lý do: môi trường khoa học còn bảo thủ, chưa chấp nhận thay đổi đến từ bên ngoài; điều kiện hoạt động khoa học thiếu thốn (thiếu kinh phí nghiên cứu; nghèo nàn cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, thư viện...) và đặc biệt là những vấn đề của đời sống vật chất khiến nhiều nhà nghiên cứu phải đặt khoa học sang một bên để lao vào các công việc mưu sinh. Như vậy, vấn đề “chảy máu chất xám” không chỉ là những vết “ngoại thương” khi người được đào tạo rời bỏ Tổ quốc, di dân đến các quốc gia phát triển, mà còn là những vết “nội thương” khi nguồn chất xám chất lượng cao không phục vụ cho các mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ, mà nhiều khi bị lãng phí trong những mục đích tầm thường của cuộc sống (nhưng không hề tầm thường với mỗi cá nhân). Nhìn một cách sâu xa, những vết “nội thương” để lại những hậu quả tai hại còn hơn cả những vết “ngoại thương”. Bởi lẽ một chuyên gia, một nhà khoa học nếu còn có những liên hệ với đất nước thì đến một lúc nào đó, sau khi vượt qua được những vấn đề trước mắt, họ vẫn có thể có những đóng góp quan trọng cho Tổ quốc. Nhưng nếu một nhà khoa học bị “chết mòn” trong những điều nhỏ nhặt của cuộc mưu sinh hoặc bị những cơ chế bảo thủ, trì trệ trói buộc, thì rất nhiều khả năng, chỉ sau một khoảng thời gian mươi năm, giới khoa học sẽ mất đi một nhà khoa học.

... Nhìn lại lịch sử Việt Nam, đã có không ít giai đoạn chúng ta được chứng kiến cuộc trở về của những trí thức từ những nơi đầy đủ nhất trên thế giới. Đầu thế kỷ hai mươi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chúng ta đã có một thế hệ trí thức như thế, từ bỏ tất cả, không phải chỉ tiện nghi, không phải chỉ vật chất, đãi ngộ, điều kiện mà quan trọng hơn là từ bỏ cả chính “cái tôi”, lột xác về tư tưởng để có thể trở về với

Dân tộc và Tổ quốc một cách đúng nghĩa. Phải chăng, chính mỗi người trở về hôm nay cũng nên đặt câu hỏi: Liệu chúng ta đã dám từ bỏ những gì để đánh đổi, lấy lại những gì quan trọng nhất làm nên phẩm giá trí thức? Phải chăng, đã đến lúc, tinh thần của Trần Đại Nghĩa, Trần Đức Thảo, Lương Định Của, Nguyễn Khắc Viện,… một lần nữa cần được nhân lên trong mỗi người lao động trí óc hôm nay?

Duy Khiêm (nhandan.com.vn 09/11/2012)

Phần II – Câu 2:

Tính chính luận mẫu mực trong đoạn văn mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập

Mở đầu bản Tuyên ngôn, Người đã trích dẫn những tư tưởng cơ bản trong bản “Tuyên ngôn độc lập” năm 1776 của nước Mỹ và bản “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” năm 1791 của Cách mạng Pháp. Nội dung này tạo nên nguyên lí chung làm cơ sở cho hệ thống luận điểm và lập luận cho bản Tuyên ngôn độc lập. Đó là nguyên lí phổ quát mang tính chân lí về quyền hưởng độc lập, tự do của con người, của tất cả các dân tộc trên thế giới. Đoạn văn cũng muốn gợi lại niềm tự hào cao cả của lịch sử dân tộc Việt Nam về các triều đại: Đinh, Lý, Trần, cùng sánh vai với các triều đại Hán, Đường, Tống, Nguyên đã được Nguyễn Trãi ghi trong Bình Ngô Đại Cáo. Và xét trong tính chỉnh thể, đoạn văn này là sự chuẩn bị để phê phán bản chất phản động của thực dân Pháp đi ngược lại tư tưởng tiến bộ của tổ tiên họ đã 80 năm qua chúng đến cướp nước ta, áp bức đồng bào ta.

Cách mở đầu này rất khéo léo, kiên quyết, thể hiện bản lĩnh của một nhà hoạt động chính trị, một nhà văn viết chính luận lão luyện. Khéo léo ở chỗ nó tỏ rõ sự trân trọng những danh ngôn bất hủ của người Pháp, người Mĩ - những dân tộc hùng mạnh, văn minh trên thế giới, những điều mà họ nói ra đã được cả thế giới công nhận. Kiên quyết vì đó là lời ngầm ý nhắc nhở họ đừng phản bội tổ tiên mình và hành động xâm lược Việt Nam sẽ là hành động vấy bùn lên lá cờ nhân đạo của những cuộc cách mạng vĩ đại của họ. Trong tranh luận, để bác bỏ luận điệu của một đối thủ nào đấy, không gì thú vị và đích đáng hơn là dùng chính lí lẽ của đối thủ ấy. Người ta gọi đó là thuật “lấy gậy ông đập lưng ông”. Ngoài ra, việc nhắc đến hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng trong lịch sử nhân loại cũng có nghĩa là đặt ngang hàng ba dân tộc, ba cuộc cách mạng, ba bản Tuyên Ngôn, nối quá khứ với hiện tại, đưa cách mạng Việt Nam hoà vào dòng chảy cách mạng thế giới, thể hiện một niềm tự hào và sự khẳng định tầm vóc, vị thế dân tộc.

Tuy nhiên, phần đặt vấn đề không chỉ có thế. Người đặc biệt nhấn mạnh “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới, sinh ra đều bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Cụm từ “suy rộng ra” hết sức quan trọng vì nội dung câu văn ngay sau là sự phát triển, sáng tạo tư tưởng từ nguyên lí về quyền tự do, bình đẳng của cá nhân đi đến nguyên lí chung mang tính khái quát hơn về quyền tự do, bình đẳng của dân tộc. Đây là một đóng góp đầy ý nghĩa của Hồ Chí Minh với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Một nhà văn hoá nước ngoài đã viết “Cống hiến nổi tiếng của cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ người đã phát triển quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc. Như vậy, tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết định lấy vận mệnh của mình”. Rõ ràng, cái luận điểm “suy rộng ra” kia chính là phát súng lệnh mở đầu cho bão táp cách mạng ở các thuộc địa sẽ làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân trên khắp thế giới vào nửa sau thế kỉ XX.

Câu chốt đoạn ngắn gọn, chắc nịch, nhấn mạnh một chân lí hiển nhiên, ai cũng phải công nhận. Câu văn mang tính đối thoại, tranh biện, luận chiến, khẳng định lập trường chính nghĩa và đặt cơ sở pháp lí vững chắc cho nền độc lập dân tộc. Người viết cũng ngầm ý hướng đến những âm mưu, những kẻ thù đang mang dã tâm chối cãi, chà đạp lên “lẽ phải”. Nếu Pháp và Mĩ thực hiện dã tâm ấy là bọn chúng đã vấy bùn lên truyền thống và danh dự của chính cha ông chúng. Đúng là khi đọc Tuyên ngôn phải đọc giữa hai dòng chữ thì mới thấm thìa những ý vị sâu xa, mới thấu hiểu ý nghĩa nén chặt trong từng câu, từng chữ. Cảm quan cách mạng

nhạy bén, trí tuệ sắc sảo của một nhà tư tưởng lớn kết đọng ở mỗi lời văn.

Số trang

(Đề thi có 02 trang)

ĐỀ THI THỬ THPTQG NĂM 2020

CHUẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐỀ 12

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh: .......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

  1. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Có bao giờ sông chảy thẳng đâu em Sông lượn khúc lượn dòng mà đến biển Bờ bãi loi thoi xóm làng ẩn hiện

Đời sông như đời người trên sông

Em yêu anh có yêu được như sông Sông chẳng theo ai, tự chảy nên dòng Sông nhớ biển lao ghềnh vượt thác

Mang suối nguồn đi đến suốt mênh mông

Đã yêu sông anh chẳng ngại sâu nông Em có theo anh lên núi về đồng

Hạt muối mặn lên ngàn, bè tre xuôi về bến

Em có cùng lũ lụt với mưa dông

Đời sông trôi như đời người trên sông Anh tin bến, tin bờ, tin sức mình đến bể Tin ánh sáng trên cột buồm, ngọn lửa Tin mái chèo cày trên sóng cần lao

Anh tin em khi đứng mũi chịu sào Anh chẳng sợ mọi đá ngầm sóng cả Anh yêu sông, yêu tự nguồn đến bể Gió về rồi, nào ta kéo buồm lên

(Vũ Quần Phương – Tình yêu – dòng sông – NXB Văn học, 1988)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản?

Câu 2: Trong bài thơ, nhà thơ đã bày tỏ niềm băn khoăn: “Em yêu anh có yêu được như sông”. Theo nhà thơ, dòng sông và tình yêu có những điểm nào tương đồng?

Câu 3: Phân tích tác đụng của biện pháp tu từ so sánh trong khổ thơ:

Đời sông trôi như đời người trên sông Anh tin bến, tin bờ, tin sức mình đến bể Tin ánh sáng trên cột buồm, ngọn lửa Tin mái chèo cày trên sóng cần lao

Câu 4: Thông điệp tình yêu ẩn chứa trong hai câu thơ cuối là gì?

  1. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm):

Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 200 chữ) bày tỏ suy nghĩ về bài học từ những dòng sông được nêu trong hai câu mở đầu của bài thơ phần Đọc – hiểu:

Có bao giờ sông chảy thẳng đâu em Sông lượn khúc lượn dòng mà đến biển

Câu 2 (5,0 điểm):

Nhận định về truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, có ý kiến cho rằng: “Một thành công của tác phẩm là tác giả đã có cái nhìn lịch sử - tiếp nối và chuyển giao của các thế hệ dân làng Xô man đứng lên đánh giặc”.

Từ hiểu biết của mình về truyện ngắn này, anh/chị hãy phân tích làm sáng tỏ ý kiến trên.

-------------------- HẾT --------------------

Thí sinh không được sử dụng tài liệu! Phụ huynh, thầy cô và đồng đội vui lòng không giải thích gì thêm.

!xin cảm ơn!

CHÚC CÁC EM LÀM BÀI TỐT!

  1. ĐỌC-HIỂU (3,0 điểm)

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

!

  • Đối với câu hỏi 3, khi câu hỏi đã nêu rõ “Theo nhà thơ”, các em cần chú ý toàn bộ dữ liệu cho câu trả lời đều nằm trong văn bản, tránh việc suy diễn lan man và thêm vào các ý theo quan điểm của bản thân.

  • Đối với câu hỏi 4, đây vẫn là dạng câu hỏi thường gặp trong yêu cầu đọc hiểu, tuy nhiên phạm vi thông

điệp được quy vào “thông điệp tình yêu”, các em cần lưu ý đọc kĩ để trả lời đúng phạm vi yêu cầu.

Câu 1 (0,5 điểm):

Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm/Phương thức biểu cảm.

Câu 2 (1,0 điểm):

Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, thể hiện khả năng hiểu biết của bản thân về văn bản nhưng cần đảm bảo logic, chặt chẽ. Cần nêu được ít nhất hai nét tương đồng. Gợi ý:

    • Sông lượn khúc, lượn dòng mà tới biển; lũ, dông, đá ngầm, vực xoáy: tình yêu nhiều thử thách, trắc trở,

khó khăn.

    • Sông nhớ biển, lao ghềnh vượt thác; suối nguồn đi suốt mênh mông: tình yêu mạnh mẽ, nồng nhiệt, dạt

dào, đòi hỏi sự hi sinh;

    • Sông chẳng theo ai tự chảy nên dòng: bản lĩnh, ý chí vượt qua khó khăn trong tình yêu.

.

Câu 3 (1,0 điểm):

Tác dụng:

    • Tăng tính sinh động và gợi cảm cho câu thơ.

    • Thể hiện hình ảnh của cuộc đời như một cuộc hành trình dài với nhiều khó khăn, thử thách và cũng nhiều niềm vui, hạnh phúc. Con người cần có can đảm đi qua khó khăn thì sẽ đạt đến thành công.

Câu 4 (0,5 điểm):

Có thể nêu thông điệp theo cách hiểu, quan điểm riêng của cá nhân, đảm bảo hợp lí, thuyết phục. Gợi ý:

    • Tình yêu cần có niềm tin, sự lạc quan, niềm tin làm nên sự bền vững của tình yêu.

    • Trong tình yêu cần chân thành, chung thủy. Sự chân thành, thủy chung tạo nên sức mạnh to lớn cho tình yêu.

    • Tình yêu cần trọn vẹn, yêu ai là yêu chính con người của họ. Đó là tình yêu đích thực, tình yêu từ những điều nhỏ nhất.

.

  1. LÀM VĂN (7,0 điểm):

Câu 1 (2,0 điểm):

!

Đối với dạng nghị luận xã hội xuất hiện hai vấn đề nghị luận có tính chất đối lập nhau (ở đây là hai cách ứng xử trước khó khăn, thử thách: hoặc đối đầu trực diện hoặc đi vòng, khéo léo tránh khó khăn), các em cần chú ý:

  • Bàn luận, chỉ rõ mặt đúng/sai, ưu điểm/tồn tại của từng vấn đề.

  • Bài học nhận thức rút ra thông thường là sự dung hòa của hai vấn đề, lựa chọn linh hoạt theo từng hoàn

cảnh.

  1. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn (0,25 điểm)

Có thể trình bày đoạn văn theo nhiều cách: diễn dịch, quy nạp, móc xích, song hành...

  1. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận(0,25 điểm):

Bài học về cách ứng xử trước khó khăn trong cuộc sống.

  1. Triển khai vấn đề nghị luận (1,0 điểm):

Có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng cần

làm rõ được suy nghĩ về cách ứng xử trước khó khăn trong cuộc sống. Có thể theo hướng sau:

    • Giải thích:

+ Chảy thẳng: đối đầu trực diện với khó khăn, đi xuyên qua một cách quyết liệt. Lượn khúc, lượn dòng

đến biển: tìm ra con đường đi mới, đi vòng khéo léo tránh được khó khăn để đi đến đích.

+ Nội dung của hai câu thơ đã thể hiện hai quan niệm sống, hai cách ứng xử với những khó khăn, thử thách trong cuộc sống: hoặc là đối đầu, xuyên qua khó khăn hoặc là linh hoạt, tìm con đường khác. Từ đó giúp cho mỗi người có được bài học cho riêng mình.

    • Bàn luận:

+ Hai quan niệm, hai cách ứng xử trước khó khăn, thử thách có những giá trị riêng, ý nghĩa, vai trò riêng.

+ Khi đi xuyên qua khó khăn là chấp nhận tổn thương, đau đớn, nguy hiểm; cần có ý chí vững vàng

nhưng qua đó cũng tôi luyện được bản lĩnh con người, giúp con người trưởng thành. (dẫn chúng)

+ Khi đi vòng đường khác, né tránh những khó khăn một cách linh hoạt tuy có xa hơn, chậm hơn để đến đích nhưng an toàn hơn. Tuy nhiên, chỉ biết né tránh cũng là lựa chọn của người yếu đuối, thể hiện sự thụt lùi, sự kém cỏi. (dẫn chứng)

    • Bài học nhận thức: Dựa vào hoàn cảnh thực tế để có ứng xử phù hợp.

  1. Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,25 điểm):

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa Tiếng Việt.

  1. Sáng tạo (0,25 điểm):

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

Câu 2 (5,0 điểm)

!

Đối với dạng đề nghị luận về một ý kiến bàn về văn học với phạm vi chứng minh là toàn bộ tác phẩm, các em cần chú ý:

  • Giải thích rõ ràng, mạch lạc ý kiến, giải thích từ các từ cho đến nội dung của ý kiến.

  • Khi phân tích chứng minh cần bám sát nội dung ý kiến, tránh việc sa đà vào phân tích những vấn đề không

thuộc phạm vi ý kiến.

  • Tránh việc đi vào phân tích quá kĩ lưỡng một số nhân vật hoặc tình huống truyện dẫn đến tình trạng làm không hết bài. Nên có sự chọn lọc phân tích để đảm bảo cân đối bài làm.

  1. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận (0,25 điểm):

Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết bài. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn

đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân.

  1. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm):

Sự tiếp nối các thế hệ trong tác phẩm “Rừng xà nu”.

  1. Triển khai vấn đề nghị luận:

Cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp dẫn chứng và lí lẽ.

    1. Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm (0,5 điểm):

      • Về tác giả: nhà văn của vùng đất Tây Nguyên, gắn bó xuyên suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và

Mĩ, ngòi bút mang đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

      • Về tác phẩm: sáng tác năm 1965 khi quân Mĩ ồ ạt tấn công vào miền Nam, tiêu biểu cho chủ nghĩa yêu

nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, mang đậm dấu ấn sử thi…

    1. Giải thích ý kiến (0,5 điểm)

      • Cái nhìn lịch sử là nhìn bao quát, nhìn xuyên suốt thời gian dài; tiếp nối là có sự liên tục không ngừng nghỉ không đứt quãng; chuyển giao là sự giáo dục tuyên truyền, giao nhiệm vụ của thế hệ đi trước cho thế hệ đi sau, người ngã xuống, đi xa cho người sống còn lại, người già cho người trẻ…

      • Ý kiến khẳng định một phương diện thành công nổi bật của tác phẩm là cái nhìn lịch sử, sử thi đậm chất anh hùng cách mạng trong tác phẩm, là nêu cao tinh thần kế tiếp giữa các thế hệ trong cuộc kháng chiến trường kì.

    2. Phân tích làm rõ ý kiến trong tác phẩm (2,0 điểm):

CHÚ Ý

Phân tích tác phẩm để làm sáng tỏ cho ý kiến về thành công của “cái nhìn lịch sử”:

  • Thế hệ những người mở đường: những con người tiên phong kiên cường, dũng cảm, nhiều người đã hi sinh.

  • Thế hệ tiếp nối: những con người bản lĩnh, giàu nghị lực, vượt lên trên khó khăn, thách thức.

  • Thế hệ tương lai: kế thừa và phát huy sức mạnh của thế hệ trước, mang niềm hi vọng mãnh liệt vào tương

lai tươi sáng.

  • Các thế hệ có sự chuyển giao, tiếp nối, hòa quyện để đưa cách mạng tới thắng lợi cuối cùng. Mỗi thế hệ lại tương ứng với một thế hệ cây xà nu tạo nên hình tượng ẩn dụ đa nghĩa.

  • Khái quát nội dung: dưới sự giác ngộ cách mạng của anh Quyết, người dân làng Xôman, từ già đến trẻ, từ đàn ông đến đàn bà… đều một lòng đi theo cách mạng. Suốt 5 năm liền không có một cán bộ nào bị bắt trong rừng. Cuộc chiến đi từ bị động đến chủ động từ tự phát đến tự giác, từ nô lệ đến đấu tranh vũ trang độc lập. Mỗi người dân làng Xô man là một chiến sĩ góp phần tạo nên cuộc kháng chiến trường kì toàn dân toàn diện tạo, luôn luôn tiếp nối chuyển giao, hình thành nên dòng chảy truyền thống chủ nghĩa anh hùng cách mạng không chỉ trong kháng chiến mà còn trong lịch sử dân tộc.

  • Thế hệ bà Nhan, anh Xút, cụ Mết – những người mở đường tiên phong đầy đau thương kiên dũng

+ Bà Nhan, anh Xút bất chấp sự uy hiếp tàn bạo của Mĩ – Diệm, cùng với dân làng Xô man vẫn thay nhau vào rừng tiếp tế, nuôi giấu bảo vệ cán bộ Đảng. Họ bị địch bắt và giết để uy hiếp tinh thần cách mạng người dân nhưng dân làng Xô man vẫn tiếp tục con đường đấu tranh cách mạng.

+ Cụ Mết, một già làng, thủ lĩnh tinh thần của dân làng, đứng đầu chỉ huy phát động đấu tranh với chân lí

Chúng nó cần súng, mình phải cầm giáo. Cụ là cầu nối giữa Đảng và cách mạng, người truyền ngọn lửa cách

mạng truyền thống, truyền sử cho các thế hệ sau. Cụ Mết đã giáo dục Tnú, giáo dục thế hệ sau Tnú kể cho dân làng nghe về cuộc đời Tnú và cuộc vùng dậy đấu tranh của dân làng khi Tnú khi vượt ngục về làng…

  • Thế hệ Tnú và Mai – thế hệ tiếp nối, nâng lên tầm cao mới nhiệm vụ cách mạng, chuyển giao truyền lửa mạnh mẽ sứ mệnh cho thế hệ sau

+ Mai tiêu biểu cho người phụ nữ thời đánh Mĩ của đồng bào Tây Nguyên. Còn nhỏ, Mai cùng Tnú vào rừng tiếp tế, liên lạc bảo vệ cán bộ, quyết tâm học để làm cách mạng. Lớn lên, cùng chồng chiến đấu. Trước sự tra tấn của giặc, Mai kiên trung bảo vệ cách mạng và con. Mai hi sinh anh dũng trước đòn roi của kẻ thù.

+ Tnú tiêu biểu cho số phận con đường đấu tranh của người Tây Nguyên. Lúc nhỏ, sớm mồ côi, sống nhờ sự chở che, đùm bọc của dân làng, sớm giác ngộ cách mạng thay cho thanh niên, người già, tiếp tế cho cán bộ. Bộc lộ tố chất của người cách mạng gan góc, dũng cảm, mưu trí, trung thành (dẫn chứng) và luôn ý thức sâu sắc lời cụ Mết nói: Cán bộ là Đảng, Đảng còn, núi nước này còn, lời anh Quyết dặn…Lớn lên, ba năm sau, vượt ngục về làng, cùng thanh niên mài vũ khí đánh giặc. Tnú trở thành người nuôi giữ để ngọn lửa yêu nước thắp sáng qua các thế hệ, chủ động cho cuộc chiến đấu mới với kẻ thù. Giặc bắt giết vợ con và bản thân bị tra tán dã man, Tnú vẫn kiên trung bất khuất và cùng dân làng vùng lên đấu tranh diệt giặc. Tnú tham gia lực lượng, lập nhiều chiến công, vẫn hướng về cội nguồn, thăm làng để giữ vững ý chí chiến đấu truyền lửa cho thế hệ sau.

  • Heng, Dít – thế hệ tiếp nối mang niềm tin vào tương lai tươi sáng bất diệt

+ Dít, em gái Mai, là quá khứ và sự tiếp nối con đường cách mạng của Tnú và Mai ở hiện tại và tương lai. Khi nhỏ, linh hoạt nuôi giấu, liên lạc cho thanh niên du kích. Lúc bị bắt, bị dọa dẫm: “đôi mắt nó thì vẫn nhìn bọn giặc bình thản lạ lùng”. Là cán bộ trẻ có năng lực nghiêm túc, xác định rõ nhiệm vụ công việc (dẫn chứng).

+ Heng là thế hệ mới, tiếp nối cha anh, hứa hẹn sự trưởng thành vững chắc ở tương lai. Bổ sung, hoàn chỉnh

cho hình tượng Tnú – tầm bao quát sơm, hiểu biết khoa học (dẫn chứng).

  • Các thế hệ dân làng Xô man mang sức mạnh nhiệm vụ riêng nhưng họ luôn chuyển giao tiếp nối hòa quyện trong nhau tạo nên sức mạnh tổng hợp của một buôn làng, của một cộng đồng vùng đất và cả một dân tộc. Nhà văn đã miêu ẩn dụ và được đặt họ trong thể đối sánh hòa quyện với hình ảnh các thế hệ cây xà nu, tạo nên rừng xà nu xanh bạt ngàn nối tiếp chạy đến chân trời… tạo nên bức tranh toàn cảnh rộng lớn, có tính chất sử thi, lạc quan niềm tin dự báo về tương lai tất thắng.

    1. Bình luận đánh giá (0,5 điểm):

      • Khẳng định tính đúng đắn của ý kiến. Ý kiến là một chỉ dẫn tiếp cận tác phẩm văn học qua điểm nhìn,

lăng kính, cách nhìn của người nghệ sĩ.

      • Cái nhìn lịch sử tiếp nối chuyển giao giúp tác giá thành công trong việc xây dựng hình tượng có ý nghĩa khái quát và xây dựng hệ thống nhân vật nối tiếp chuyển giao các thế hệ dân làng vừa mang phẩm chất chung vừa mang nét riêng độc đáo tạo nên dấu ấn phong cách mang đậm tính chất sử thi và Tây Nguyên đặc sắc.

  1. Chỉnh tả, dùng từ, đặt câu (0,25 điểm):

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa Tiếng Việt.

  1. Sáng tạo (0,5 điểm):

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

Phần II – Câu 1:

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bài học từ những dòng sông

Trong cuộc sống mỗi người đều có mục tiêu, lý tưởng sống cho riêng mình nhưng để đạt được điều đó tất yếu sẽ phải trải qua những khó khăn thử thách. “Hãy học cách ứng xử của dòng sông: gặp trở ngại, nó vòng tìm đường khác”. Bắt đầu từ một hiện tượng của tự nhiên để đi đến một phương châm sống tích cực và được xem như bí quyết của sự thành công “Gặp trở ngại, vòng tìm đường khác”: Muôn song đều đổ về biển lớn nhưng để được hòa mình vào đại dương, dòng nước từ nguồn phải trải qua muôn ngàn thác ghềnh và một hành trình uốn lượn, chuyển dòng, thay đổi về tốc độ dòng chảy. Dòng song đã vượt qua tất cả để đến đích. Cách ứng xử của dòng sông mang đến một bài học giá trị trong học tập và cuộc sống. Cuộc sống luôn có muôn vàn khó khăn, thách thức. Đường đến vinh quang không bao giờ dễ dàng mà đó là một chặng hành trình đầy gian khổ phải đối mặt với thử thách, hiểm nguy và cả những bế tắc, thất bại nhất thời. Khi gặp bế tắc, vướng phải sự thất bại có người sẽ chùn bước, bi quan, chán nản mà từ bỏ mục tiêu, lý tưởng để suốt đời phải sống trong sự hụt hẫng, tiếc nuối. Hoặc giả như, khi gặp những thử thách, khó khăn quá lớn mà chúng ta cứ cố tình vượt qua thì đôi khi sẽ chuốc lấy thất bại vừa bị tổn thương. Học dòng sông chảy đường vòng nghĩa là không tuyệt vọng hay bỏ cuộc. Bằng sự tự tin vào bản thân, sự kiên định lý tưởng, sáng suốt để tìm ra những giải pháp, hướng đi mới đúng đắn để có được sự thành công. Có lúc lùi một bước là để tiến ba bước, linh hoạt mềm dẻo là để có thành công lớn hơn.

Phần II – Câu 2:

  • Thế hệ bà Nhan, anh Xút, cụ Mết:

Thế hệ truyền thống, đại diện là bà Nhan, anh Xút, là cụ Mết. Bà Nhan, anh Xút trong những ngày tháng đen tối, giặc lùng sục khắp nơi vẫn thay nhau vào rừng tiếp tế, nuôi giấu bảo vệ cán bộ Đảng. Họ bị địch bắt và giết một cách dã man (người chặt đầu, người treo cổ) để uy hiếp tinh thần cách mạng người dân. Thế nhưng người dân làng Xô Man đã biến đau thương, căm thù thành hành động, vẫn tiếp tục con đường đấu tranh cách mạng. Cụ Mết chính là đại diện của truyền thống, của lịch sử làng Xô Man, là cây xà nu cổ thụ xòe tán rộng giữa rừng xà nu bạt ngàn. Cụ được khắc họa với hình dáng quắc thước, cường tráng, vững chãi Râu dài đến ngực và vẫn đen bóng, mắt vẫn sáng và sếch, ngực căng như một cây xà nu lớn. Cụ chính là linh hồn của làng, là sức mạng tập hợp dân làng và là nguồn nuôi dưỡng tinh thần, bồi đắp tâm hồn cho họ, là chỗ dựa vững chắc cho thế hệ cháu con. Lòng cụ sang ngời niềm tin vào Đảng vì Đảng còn núi nước này còn. Chính cụ đã cùng với thanh niên vào rừng tìm vũ khí đánh giặc, là người kêu gọi dân làng vùng lên đấu tranh, tiêu diệt kẻ thù, cứu Tnú Cụ Mết chống chống giáo xuống sàn nhà, tiếng nói vang vang: Thế là bắt đầu rồi, đốt lửa lên !. Chính cụ đã kể lại cho con cháu về cuộc đời Tnú khi anh đi xa và khi anh trở về để ghi khắc, nhắc nhở một chân lí Nghe rõ chưa các con, nghe rõ chưa. Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này, tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm sung, mình phải cầm giáo. Bản lĩnh là thế nhưng cụ cũng không thể cầm được nước mắt khi nhắc lại câu chuyện Mai và con trai Tnú chết. Tấm lòng của cụ với Tnú không chỉ là tấm lòng của người đi trước mà còn là tấm lòng của một người cha. Cụ đã gắn bó sâu nặng nghĩa tình với dân làng và cả đời sống vì nghĩa tình đó.

  • Thế hệ Dít, Heng:

Niềm tin của tương lai chính là thế hệ đi sau qua hình ảnh cô Dít và bé Heng. Dít cũng không thua kém